BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOS
|
|
|
- あいり むこやま
- 7 years ago
- Views:
Transcription
1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOSEKI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh
2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOSEKI Chuyên ngành: Văn Học Nước Ngoài Mã số: LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY Thành phố Hồ Chí Minh
3 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn: TS. Nguyễn Thị Bích Thúy, các thầy cô tổ Văn học nước ngoài, phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm TPHCM, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này. TPHCM, Ngày tháng 09 năm 2013 Người viết luận văn Bùi Thanh Phương Lớp Cao học VHNN khóa 22 1
4 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN... 1 MỤC LỤC... 2 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Đóng góp của luận văn Bố cục của luận văn CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN NIỆM CON NGƯỜI CÁ NHÂN Quan niệm về Con người cá nhân Con người cá nhân phương Đông và phương Tây Con người cá nhân Nhật Bản Hành trình của Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản Natsume Soseki và lập trường cá nhân Lập trường cá nhân trước xã hội Lập trường cá nhân trong sáng tác văn chương CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI CÁ NHÂN-NỖI LÒNG TRƯỚC THỜI CUỘC Cá nhân cô đơn giữa Nhóm Cá nhân cô đơn giữa tình thân Cá nhân kiếm tìm sự đồng cảm Cá nhân lạc lõng trong xã hội hiện đại hóa Cá nhân không theo kịp xã hội Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội Cái Tôi và sự cảnh tỉnh Cái Tôi-Tự do-ích kỉ Thực trạng xã hội và sự cảnh báo Thực trạng giáo dục thời kì Minh Trị và sự phản ứng Cái Tôi và sự bình tâm Tìm về triết học, nghệ thuật
5 Đề cao sự công bằng xã hội Tìm sự giải thoát trong cái chết CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT ĐẶC TẢ NHÂN VẬT CON NGƯỜI CÁ NHÂN Ngôi kể Tôi và nhân vật tự thuật Cá tính hóa nhân vật Cặp đôi nhân vật Con người cá nhân và không gian đặc thù Không gian sự kiện Không gian bất toàn Không gian an toàn PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
6 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bức tranh văn học Nhật Bản thời Minh Trị đa màu sắc, để lại những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX. Tuy nhiên ở Việt Nam các bài viết và công trình nghiên cứu về thời kì văn học này vẫn còn khá khiêm tốn cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong Hội thảo văn học Nhật Bản (2009), GS Mitsuyoshi Numano (Đại học Tokyo) đã đưa ra nhận định: Di sản để lại của tiểu thuyết thời Minh Trị là rất lớn, thế nhưng phần lớn các tác phẩm dịch thuật tại Việt Nam đều thuộc về các nhà văn ăn khách thời hiện đại, còn các nhà văn quan trọng có ý nghĩa vượt thời gian lại chưa được chú ý nhiều. Tác giả cũng đưa ra nhiều tên tuổi nổi bật, trong đó có nhà văn Natsume Soseki. Khảo sát tình hình nghiên cứu văn học Nhật Bản tại Hàn Quốc, đặc biệt là mảng nghiên cứu văn học Nhật Bản cận đại, số lượng các bài nghiên cứu về các nhà văn cận hiện đại lên đến hàng trăm bài, đứng đầu là Natsume Soseki với 240 bài nghiên cứu về các tác phẩm kiệt xuất của ông như Nỗi lòng có 31 bài, Sanshiro 21 bài, Đêm mơ 17 bài Như vậy có thể nói rằng phần lớn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là hướng tới Soseki. (Theo Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á số 9, năm 2007). Kết quả khảo sát này cho thấy: là một trong những tác giả quan trọng nhất của văn học thời Minh Trị, nhưng Soseki lại xuất hiện khá muộn và chưa được đầu tư nghiên cứu ở Việt Nam. Soseki là một hiện tượng trên văn đàn Nhật bản, cho đến nay, những tác phẩm của ông vẫn nằm trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất. Ông được đánh giá là một trong ba trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại cùng với Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke. Chân dung của ông in trên tờ giấy bạc 1000 yên và được phát hành trong 20 năm liền. Là một học giả xuất sắc sang Anh du học, Soseki đã tiếp thu bài bản nhuần nhuyễn tinh hoa văn học Anh, ông đã kết hợp vốn kiến thức rộng lớn về văn hóa phương Tây cùng sự tinh thông Thiền học và văn hóa cổ điển Trung Hoa. Sáng tác của Soseki là hành trình nỗ lực tìm kiếm và khẳng định cái Tôi, đặc biệt là cái Tôi cô đơn của người trí thức trong xã hội tư sản còn mang nhiều tàn tích phong kiến. Sự nghiệp sáng tác của ông dồi dào với hơn 20 tiểu thuyết nhiều thi phẩm, phê bình, tiểu luận trong khoảng thời gian từ 1903 đến Giai đoạn đầu, 4
7 những sáng tác của ông đậm chất trào phúng, châm biếm dí dỏm. Càng về sau tác phẩm của ông đã thể hiện một bút pháp bậc thầy, khám phá, lí giải nỗi lòng của con người trước thời cuộc. Tên tuổi của Soseki được biết đến với tiểu thuyết đầu tay Tôi là con mèo (Wagahai wa neko daeru) mang màu sắc trào phúng. Tiếp sau đó là sự ra đời của Cậu ấm ngây thơ (Botchan), tác phẩm được đọc nhiều nhất của Soseki cho đến tận bây giờ, được xem là điển hình cho thanh niên Nhật. Gối đầu lên cỏ (Kushamakura) là sự thể nghiệm độc đáo, hòa quyện giữa thơ và văn xuôi, không giống như tiểu thuyết thông thường Đây là ba tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn đầu khởi nghiệp của Soseki. Nhưng giá trị lâu bền của những tác phẩm này là bàn về vấn đề con người cá nhân ngay khi sự va chạm giữa Nhật Bản và phương Tây bắt đầu. Hòa vào tiếng nói con người cá nhân bùng phát trong văn học Minh Trị, ba tác phẩm này là những phản ánh chân thực và sinh động suy nghĩ, hành động của con người cá nhân, không được gia công gọt giũa nhiều như những tác phẩm giai đoạn sau. Hấp dẫn và ăn khách nhưng những tác phẩm này chưa được nghiên cứu công phu và hệ thống bằng những tác phẩm giai đoạn sau. Vì những lý do trên, đề tài nghiên cứu luận văn sẽ góp phần khám phá, lý giải quan niệm về con người cá nhân của Soseki trong giai đoạn một cách hệ thống và đặt trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn với mong muốn tạo tiền đề tìm hiểu vấn đề cốt lõi trong văn học cận hiện đại Nhật Bản: Con người cá nhân. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tình hình nghiên cứu văn học Nhật Bản thời kì Minh Trị ở nước ta khá khiêm tốn. Đa số các bài viết đều chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và giới thiệu, các bài viết nghiên cứu về nhà văn Natsume Soseki cũng không ngoạị lệ. (1) Khương Việt Hà với bài viết Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX(Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8 năm 2005) điểm qua những tác phẩm nổi bật của Natsume Soseki. Tác giả nhận định Tôi là con mèo (Wagahai wa neko de aru, ) là kiệt tác châm biếm, đả kích sự lố lăng của thời đại với hình tượng một con mèo nằm lắng nghe chăm chú các nhà khoa học tranh cãi trong căn phòng 5
8 của ông giáo Kushami, thực chất là sự thảo luận về triết học và nghệ thuật; tiểu thuyết Cậu ấm (Botchan, 1908) kể về một giáo viên trung học vụng về trước sự thay đổi của thời cuộc. (2) Tham luận Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán (qua tư liệu văn học Việt Nam và Nhật Bản) của PGS.TS Đoàn Lê Giang đã đề cập đến nhà văn Natsume Soseki và gọi ông là đại tác giả của tiểu thuyết cận đại với nhận xét: Tất cả tác phẩm của ông đều đi vào thể hiện cái tôi và sự cô đơn của con người hiện đại. Tham luận này đã bước đầu nhận định chung về đề tài chính trong sáng tác của Soseki. (3) Tham luận Sơ lược tiếp cận thang giá trị mới trong văn học Nhật Bản thời minh trị Duy Tân của hai tác giả Đỗ Vạn Hỷ, Lý Hoàn Thục Trâm đã bước đầu tìm hiểu những biểu hiện của một thang giá trị mới trong văn học buổi giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trọng tâm là sự xung đột cũ và mới; quan niệm về con người cá nhân. Hai tác giả đã nhận định rằng quan niệm con người cá nhân trong văn học hiện đại Nhật Bản là một sự tiếp biến từ quan niệm Nho học truyền thống: mỗi cá nhân là một mắt xích trong chuỗi dài quan hệ xã hội. Tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro) của Natsume Soseki là sự thể hiện rõ nét nhất của một bản ngã cá nhân như vậy. Những nhân vật trong tác phẩm này không hề có những tên tuổi cụ thể nhưng chính đời sống nội tâm phức tạp làm nên diện mạo con người cá nhân của họ. Nhân vật Tiên sinh là cái tôi đang cố thoát ly khỏi giá trị truyền thống còn nhân vật Tôi lại biểu hiện kiểu cái tôi theo một thang giá trị mới. Đây là công trình đi sâu vào vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki nhưng trọng tâm nghiên cứu ở tác phẩm giai đoạn sau. (4) Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân trong sách Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản đã nghiên cứu kĩ lưỡng văn nghiệp của Natsume Soseki và so sánh ông với Mori Ogainhà văn cùng thời và có quan điểm về phương Đông và phương Tây khác hẳn Natsume Soseki. Ông nhận xét về tiểu thuyết Tôi là con mèo (Wagahai wa neko dearu): con mèo đóng vai người kể chuyện, vờ ngây thơ quan sát môi trường nhà chủ và giới trí thức, công chức thời Meji. Trong đó Soseki được miêu tả khôi hài qua hình ảnh Ông giáo hắt hơi. Với tác phẩm Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) muốn tìm về cái đẹp của một thế giới vượt hẳn chúng nhân còn với Cậu ấm (Botchan), ông đề cao lý tưởng công bằng xã hội. Qua Cậu ấm, Soseki trình bày những nghịch cảnh và khổ não mà con người gặp phải trong cuộc sống và quyết tâm đập tan nó. Nguyễn Nam Trân đã nhận định sâu sắc về ba tác phẩm nổi bật trong giai đoạn đầu sáng tác của Natsume Soske. 6
9 (5) Một công trình khác tương đối kĩ lưỡng trong việc trình bày cuộc đời và sáng tác của Natsume Soseki là Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh (Viện nghiên cứu Đông Bắc Á). Tác giả đã biên soạn và giới thiệu rất công phu 10 tác giả nổi tiếng của văn học Nhật Bản hiện đại. Natsume Soseki được tác giả khảo sát kĩ lưỡng từ cuộc đời, văn nghiệp với những thành tựu nổi bật về sáng tác và nghiên cứu văn học. Những sáng tác của Soseki được Nguyễn Tuấn Khanh cung cấp nhiều nguồn tư liệu quý báu, đặc biệt ở ý kiến của các nhà bình luận đối với từng tác phẩm. Đặc điểm chung của ba tác phẩm Tôi là con mèo, Cậu ấm, Chiếc gối cỏ đều mang tính chất tự thuật. 2.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu tại nước ngoài (1) Nhà văn đoạt giải Nobel văn học thứ hai cho Nhật Bản-Oe Kenzaburo trong tham luận Về nền văn học Nhật Bản cận đại và hiện đại đọc tại Hội nghị văn học quốc tế San Francisco 1990 đã ca ngợi Natsume Soseki như một người bình tĩnh trước làn sóng ồ ạt của văn hóa phương Tây. Sự phê phán của Soseki như một tiếng chuông cảnh báo, Soseki đã vạch ra cho người Nhật thấy sự mải mê của mình khi chạy theo mô hình kinh tế phương Tây nhưng ngay cả những điều kiện sống cơ bản cũng trở nên tồi tàn xuống cấp trong chính quá trình hiện đại hóa và những giá trị văn hóa bị xao nhãng, xa rời. (2) Trong tham luận Sự hình thành các sáng tác của Natsume Soseki-Nhìn từ quá trình ra đời của tiểu thuyết cận đại, tác giả Mitsuhiro Tokunaga đề cập đến nội dung: Hiện đại hóa và tự chủ bản thân qua tác phẩm Gió mùa Đông Bắc (Nowaki), Soseki đã khẳng định hành động hay lối sống của cá nhân là chuyện đối phó với những sự việc này sinh từ nhu cầu nội tại. Tuy nhiên tìm kiếm tự chủ bản thân, không chấp nhận thỏa hiệp mà hành động theo ý mình là biểu hiện của sự ích kỉ. Công trình này đã phần nào lý giải được bản chất vấn đề con người cá nhân trong buổi đầu sáng tác của Soseki. (3) Bài viết Literary reponses to Death and Funerals in Modern Japan của GS Michihiro Ama (ĐH Alaska) là một công trình nghiên cứu sâu sắc về ý nghĩa của cái chết và đám tang trong văn học Nhật Bản khảo sát cụ thể qua tác phẩm của hai nhà văn Tayama Katai và Natsume Soseki. Tác giả đã căn cứ vào cuộc đời, sáng tác của Soseki để nhận định: Trong suốt cuộc đời mình Soseki vừa sợ hãi vừa lý tưởng hóa cái chết minh chứng qua tác phẩm Tôi là con mèo. (4) Bài diễn thuyết của Tiến sĩ Hisaaki Yamanouchi với tựa đề Feline Philosophy: Natsume Soseki's Modern Classic Revisited đăng trên The Asiatic Society of Japan 7
10 (asjapan.org/web.php/lectures/2006/05) đã có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về tác phẩm Tôi là con mèo. Ông chú trọng đặc biệt đến cấu trúc của tác phẩm này: như một bài renga được cấu thành từ nhiều bài haiku. Tác giả nhận định đoạn cuối của tác phẩm này là sự hội họp của nhiều tư tưởng, tất cả những trí thức được tập hợp lại với nhau, và các cuộc tranh luận trong số đó dẫn đến những câu hỏi về hiện đại hóa của Nhật Bản và chủ nghĩa cá nhân là một trong những khía cạnh của nó. Tác giả bài viết này đã đề cập vấn đề cá nhân trong tác phẩm Tôi là con mèo tuy nhiên do trọng tâm nghiên cứu là cấu trúc tác phẩm, nên vấn đề con người cá nhân còn sơ lược. (5) Một công trình đáng chú ý khác khi lấy tác phẩm của Natsume Soseki làm đối tượng khảo sát là Giải phẫu cái tự ngã của TS Takeo Doi-Chuyên gia tâm thần học. Tác phẩm Gối đầu lên cỏ và Cậu ấm ngây thơ được khảo sát ở chương 4 Các phương thức quan hệ giữa người với người. Để minh họa cho mối quan hệ phức tạp của bộ đôi khái niệm Tatemae và Honne (có thể hiểu sơ lược là tiếng nói chung của xã hội và tiếng nói cá nhân) và nhận định rằng những thử thách trong cuộc sống mà nhân vật họa sĩ đang nói đến hầu hết người Nhật đều đồng tình vì họ đều đã trải nghiệm sự khó khăn đối với cấu trúc bộ đôi Tatemae và Honne. TS Takeo Doi cho rằng: Soseki đã cho chúng ta một nghiên cứu xuất sắc về trường hợp điển hình trong nhân vật trung tâm Botchan, là hình mẫu của cá nhân luôn thất bại trong các tình huống xã hội. Vấn đề con người cá nhân-cậu ấm đã được Takeo Doi phân tích tỉ mỉ, tuy nhiên vì là công trình tâm lý học nên giá trị văn chương của Con người cá nhân Cậu ấm còn mờ nhạt. Trong phạm vi hẹp tài liệu chúng tôi bao quát được, việc tiếp cận nhà văn Natsume Soseki chỉ mới là sự giới thiệu, gợi mở và nghiên cứu chung với một số tác giả khác, chưa nhiều những công trình nghiên cứu riêng tác phẩm của Soseki, đặc biệt là vấn đề con người cá nhân trong sáng tác của ông. Hầu hết những bài nghiên cứu tập trung ở tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro) (được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của Soseki). Vì vậy, đề tài luận văn này mong muốn góp phần giới thiệu, lý giải vấn đề con người cá nhân trong các tác phẩm giai ở đoạn đầu của Soseki (giai đoạn thử nghiệm sáng tác của ông từ ), tạo tiền đề để có cái nhìn so sánh đối chiếu với từng giai đoạn sáng tác, đặc biệt là giai đoạn sáng tác chuyên nghiệp và đỉnh cao (từ ) của Natsume Soseki. 8
11 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tiếng nói của con người cá nhân; Bản chất của con người cá nhân; Nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cá nhân trong sáng tác thời kì đầu của Natsume Soseki. Sự nghiệp sáng tác của Soseki có thể chia làm ba giai đoạn chính với các tác phẩm tiêu biểu: Giai đoạn thứ nhất: Tôi là con mèo ( ), Gối đầu lên cỏ (Kusamakura, 1906), Cậu ấm ngây thơ (Botchan, 1906), Bão mùa thu (Nowaki,1907) Giai đoạn thứ hai: Truyện chàng Shanshiro (Shanshiro, 1908), Từ dạo ấy (Sorekara, 1908), Cánh cổng (Mon,1910) Giai đoạn thứ ba: Qua ngày thu phân (Higan wo sugite, Người lữ khách (Kojin, ), Nỗi lòng (Kokoro, 1914), Cỏ bên đường (Michikusa, 1915), Sáng và tối (Meian, 1916) Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba tiểu thuyết nổi bật nhất và đã được dịch tại Việt Nam: _Tôi là con mèo (Wagahai wa neko de aru) _Cậu ấm ngây thơ (Botchan) _Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) Ngoài ra chúng tôi sử dụng thêm các tác phẩm khác của Soseki để so sánh các giai đoạn sáng tác của ông. 4. Phương pháp nghiên cứu (1) Phương pháp tự sự học: Được sử dụng chủ yếu trong chương 3 nhằm tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật của nhà văn. (2) Phương pháp phân tích-tổng hợp: Dựa trên cứ liệu khi phân tích các tác phẩm của Soseki, chúng tôi tổng hợp lại thành những luận điểm chính, đưa ra kết luận. (3) Phương pháp so sánh-đối chiếu Phạm vi nghiên cứu của đề tài ở những tác phẩm giai đoạn đầu, chúng tôi so sánh với những tác phẩm giai đoạn sau của Soseki để tìm hiểu sự tiếp nối, phát triển trong mục đích sáng tác và bút pháp của ông. Đồng thời so sánh tác phẩm của Soseki với một số tác phẩm 9
12 của các tác giả khác trong và sau thời đại Minh Trị để có cái nhìn phong phú hơn về vấn đề con người cá nhân. (4) Hướng tiếp cận tâm lý học Khi nghiên cứu tác phẩm của Soseki, chúng tôi nhận thấy hướng tiếp cận này đặc biệt quan trọng. Tác phẩm của Soseki cũng được sử dụng làm cứ liệu trong các công trình tâm lý học. Chúng tôi chú trọng đặc trưng tâm lý của người Nhật, dùng làm cơ sở khám phá đặc trưng tâm lý nhân vật trong tác phẩm của Soseki. (5) Hướng tiếp cận xã hội học Hướng tiếp cận này rất cần thiết trong việc nghiên cứu vấn đề cá nhân và xã hội ở Nhật Bản; tìm hiểu sự tiếp nhận của độc giả với các tác phẩm của Soseki. 5. Đóng góp của luận văn Đề tài luận văn nghiên cứu vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki, những tác phẩm này trước nay vẫn được tập trung nghiên cứu ở các vấn đề: thống nhất văn nói và văn viết, thi pháp tiểu thuyết Lý giải quan niệm lập trường cá nhân (tự chủ bản thân) còn ở dạng thử nghiệm của Soseki trên nền tảng về Chủ nghĩa nhóm tại Nhật Bản. Góp phần khám phá nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki. 6. Bố cục của luận văn Phần mở đầu Phần nội dung Chương 1: Phân biệt rõ quan niệm con người cá nhân, con người cá nhân trong văn học Nhật Bản, giới thiệu tác giả Soseki và những lập trường cá nhân của ông, chú trọng lập trường cá nhân trong sáng tác. Chương 2: Chỉ ra bản chất của con người cá nhân trong sáng tác thời kì đầu của Soseki, lý giải vì sao con người cá nhân phải tìm đến những phương cách giải thoát. Chương 3: Khám phá một số thủ pháp xây dựng nhân vật con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki. Phần kết luận 10
13 Tài liệu tham khảo 11
14 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN NIỆM CON NGƯỜI CÁ NHÂN 1.1 Quan niệm về Con người cá nhân Con người cá nhân phương Đông và phương Tây Con người ngay từ khi xuất hiện đã là con người cộng đồng nhưng đồng thời cũng là con người cá nhân, con người phát triển cá tính của mình với tư cách là con người cộng đồng đồng thời con người cộng đồng cũng chỉ phát triển với tư cách là con người cá nhân. Đây là mối quan hệ biện chứng: Giữa con người cộng đồng và con người cá nhân không chỉ có sự gắn bó khăng khít mà mối quan hệ đó còn chứa đựng mâu thuẫn và xung đột Con người với ý thức ban đầu của mình luôn khát khao giải đáp những thắc mắc về bản thân về mối quan hệ cá nhân và cộng đồng, về vũ trụ và vị trí của mình trong vũ trụ và giới hạn của hiểu biết. Theo Iser Wolfgang ( ) lý thuyết gia tiêu biểu của trường phái Konstanz (Đức): Con người là mình, nhưng không có được chính mình. Muốn nắm bắt và chiếm lĩnh được hình ảnh của chính mình luôn luôn là một khao khát vĩnh cửu của con người. Chính sự khát khao bất tận đó đã thôi thúc khiến con người tách mình ra để nhìn lại và nhìn xa hơn mong tìm được câu trả lời. Còn nhà nghiên cứu A.F.Losep ( ) thì có nhận định sâu sắc về con người trong tác phẩm Lịch sử mỹ học cổ điển (История античной эстетики): Cá nhân, chủ thể con người riêng biệt, ở đây không còn nảy sinh bằng con đường tự nhiên trong đời sống xã hội và nhà nước nữa, mà đã đối lập hẳn bản thân mình với xã hội và tự nhiên: nó đắm sâu vào bản thân nó, tự tách ra khỏi mọi cái xung quanh, chủ yếu sống bằng những cảm xúc của mình, khép mình lại; và nếu như nó hướng tới thiên nhiên thì điều đó diễn ra không phải bằng con đường tự nhiên và tự phát, hữu cơ, mà chỉ là do những nỗ lực có ý thức của nó, những nỗ lực trí tuệ, tình cảm và ý chí, bằng cách khúc xạ những dữ kiện thiên nhiên và xã hội qua một bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong nó Như vậy các ý kiến trên đều gặp nhau ở những đặc điểm về con người cá nhân: đối lập với xã hội và tự nhiên, đắm sâu vào bản thân, chủ yếu sống bằng cảm xúc của mình, có bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong 12
15 Những quan niệm về con người cá nhân này đều xuất phát từ phương Tây. Nhận định về văn hóa phương Tây, hầu hết các ý kiến đều cho rằng đặc trưng của nền văn hóa này là lấy cá nhân làm nền tảng. Đó là nền văn hoá thúc đẩy cá nhân làm chủ thiên nhiên và xã hội và trong những thế kỷ qua chính nó thay đổi thế giới dựa trên ba khái niệm chủ đạo là tiến bộ, khoa học và nhân quyền (Theo Phan Ngọc). Nhà sử học và xã hội học Troeltsch đã viết như sau: Ý tưởng Nhân cách trong hình thức của Tự do, xác định mọi thứ trong đạo lý của lương tâm, và trong hình thức của Khách thể, xác định mọi thứ trong đạo đức học của giá trị-ý tưởng ấy rốt cuộc là một niềm tin phương Tây, không được biết đến ở Viễn Đông, và là định mệnh nổi bật và đặc hữu của người châu Âu 0F 1 Người phương Tây vẫn tôn thờ chủ nghĩa tự do và hành xử theo phương châm cá nhân là tự do nhưng đặc tính này đối với người phương Đông lại khá mờ nhạt: Luân lý học Đông Phương nghiên cứu về gián chủ quan tính 間主観性, tức là nghiên cứu về cộng đồng thể 共同体, nhưng luân lý học Tây Phương lại xuất phát từ nghiên cứu về tính chủ quan, tức là tính cá thể vì thế mà quan điểm về luân lý hai bên khác nhau. Ví dụ chúng ta có thể nhìn thấy sự khác biệt này trong khái niệm về trách nhiệm xã hội. Từ responsibility trong tiếng Anh được biểu thị ý nghĩa trách nhiệm đạo lý đối với hành động cá nhân vào cuối thế kỷ mười tám nhưng từ thời La Mã cổ đại, khái niệm cá nhân với tư cách chủ thể của hành động đã có rồi. Theo đó, tất cả mọi người đều có nhận thức về tồn tại luận là đều bình đẳng trước thần linh với tư cách cá nhân. Đối với điều này thì ở Nhật Bản khái niệm trách nhiệm đã tồn tại từ thời cổ đại nhưng cá nhân nằm trong mối quan hệ khó chia tách thân phận với cộng đồng. [71] Gián chủ quan tính chỉ rõ sự phụ thuộc cộng đồng bền chặt của người phương Đông, cái chủ quan được thành lập do tác dụng của cộng đồng, không phải của riêng tự ngã mà bao hàm cả tha ngã. Đặc tính phụ thuộc cộng đồng này cũng được nhà nghiên cứu Phan Khôi phân tích trong Tư tưởng của Tây phương và Đông phương (in trong Đông Pháp thời báo). Trong bài viết này ông chỉ ra những điểm khác biệt chính giữa con người phương Đông và phương Tây: phương Tây chuộng khoa học, phương Đông chuộng huyền học; Phương Tây trọng tự chủ, phương Đông trọng thống thuộc; phương Tây quý tấn thủ, phương Đông quý an phận. Đặc tính thứ hai chính là sự khác biệt giữa khái niệm con người 1 (Troeltsch, Ernst. Christian Thoughts: Its History and Application, (1923) p Meridian, New york, 1957). 13
16 cá nhân của phương Tây và phương Đông. Rõ ràng, đặc điểm tự chủ thuộc về khái niệm con người cá nhân, Phan Khôi diễn giải thêm đó là tính độc lập, tự chủ, tự do bình đẳng với nhau và với các thiết chế xã hội trong khi người phương Đông thuộc về vua chúa, không được tự ý quyết định, sự bất bình đẳng giữa người và người luôn tồn tại. Vấn đề Con người cá nhân của phương Đông nảy nở trên sự thống thuộc và ý thức cộng đồng vô cùng bền chặt (người Hàn Quốc là gia đình, Trung Quốc là gia tộc, Việt Nam là làng xã và Nhật Bản là nhóm ). Điều này có nguyên do của nó, trước hết đối với những nước phương Đông lấy nông nghiệp làm gốc thì yếu tố tập thể luôn được đề cao, sức mạnh tập thể có thể chống chọi lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cần thiết cho những công việc đồng áng yêu cầu nhiều sức người. Cộng đồng các quốc gia Đông Á đã tiếp thu nền văn minh Trung Hoa, đặc biệt là Nho giáo, chữ Lễ là nội dung căn bản để xây dựng học thuyết của Nho gia và sau này là Nho giáo. Nho giáo chủ trương Khắc kỷ phục lễ tức kiềm chế bản thân của mình để phục tùng Lễ. Cá nhân phải hy sinh tất cả cho sự phục tùng đó điều này giải thích vì sao con người cá nhân phương Đông mang đặc điểm phụ thuộc cộng đồng. Như vậy Con người cá nhân phương Đông được hiểu như thế nào? Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang trong bài viết Có quan niệm về con người cá nhân ở phương Đông không? sau khi trình bày những ý kiến khác nhau về con người cá nhân dưới ánh sáng của Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Nguyễn Kiến Giang đã đúc kết ba đặc điểm chung: (1) Con người cá nhân cố gắng hòa nhập với tự nhiên; (2) Cá nhân ý thức vị trí của mình và phục tùng xã hội một cách tự nguyện chứ không phải do sự cưỡng chế; (3) Con người cá nhân được nhấn mạnh ở đời sống tâm linh của chủ thể. Đặc điểm thứ hai đã phản ánh phần nào bản chất của con người cá nhân phương Đông được hình thành từ ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo rõ nét. Nho giáo đề cao sự kiềm chế của bản thân, không thừa nhận cái Ngã nhưng lại yêu cầu cái Tôi tu thân rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân. Nếu so sánh với Phật giáo ở sự phân biệt Vô Ngã và Hữu Ngã sẽ thấy sự tương đồng: không có một Ngã, một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã (hữu ngã) là cái Tôi, cái "Tôi" cũng chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn, luôn luôn thay đổi, mất mát vì vậy "Tôi" chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ. Nhưng theo quan điểm nhà Phật vẫn tồn tại một nghịch lý: càng hướng tới vô ngã thì hữu ngã càng mạnh, để đạt đến vô ngã con người phải tự ý thức đến tận cùng. Như vậy có thể hiểu con người cá nhân phương Đông một mặt bị kiềm tỏa, hạn chế giữa tập thể, phải phục tùng tập 14
17 thể mặt khác lại được mở đường cho sự đào sâu đến tận cùng bản thân, cái Tôi của chính mình. Thực chất lịch sử của nhân loại là lịch sử của sự tìm kiếm tự do, tìm kiếm bản thân mình, quay về chính mình, vì vậy đặc điểm phụ thuộc cộng đồng và chú trọng đời sống tâm linh khiến nội hàm khái niệm Con người cá nhân ở phương Đông mang nặng giá trị tinh thần hơn so với phương Tây. Quan niệm tự do của phương Tây chú trọng nhiều hơn ở không gian vật chất, con người vẫy vùng trong đó để khẳng định quyền độc lập của mình. Có thể hiểu khái quát, tiêu chí quan trọng để nhận diện con người cá nhân phương Tây là ở sự tự chủ, ở phương Đông là sự độc lập về tinh thần. Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi chú trọng đặc trưng trong vấn đề con người cá nhân đó là tự do, tự chủ và cái Tôi với sự khu biệt Đông-Tây rõ rệt. Khái niệm cá nhân của phương Tây nghiêng về hành động, tôn trọng tuyệt đối quyền tự do của con người, tạo điều kiện và đề cao cá nhân nổi bật trong xã hội. Ở phương Đông Con người cá nhân mang nặng yếu tố tinh thần, con người cá nhân phải ràng buộc trách nhiệm với cộng đồng. Bàn về vấn đề con người cá nhân, cái Tôi được nhắc đến như là thuộc tính vĩnh cửu đến mức chúng ta thường đồng nhất Con người cá nhân chính là cái Tôi. Vậy cái Tôi thực ra là gì? Trong triết học, Cái tôi được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là Tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.theo phân tâm học của C.Frued, cái Tôi là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Cái Tôi cùng với nó và cái siêu Tôi là ba miền của tâm thức. Cái tôi được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cái Tôi học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. Cái Tôi có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội.trong triết lý Phật giáo, cái Tôi, thường gọi là Ngã, là cái Tôi được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Đạo Phật không công nhận sự hiện diện của một Ngã như thế. Theo quan niệm Thiền, đặc trưng duy nhất dựa trên tâm lý của cái Tôi hoàn chỉnh là việc nó chìm đắm trong sự tự trị, tự do, trong sự tự quyết và cuối cùng là sự sáng tạo. Như vậy có thể nhìn nhận cái Tôi vừa thể hiện đạo đức vừa thể hiện tâm lý và mang cả tính chất tôn giáo, bình diện của nó trải rộng. Còn nói đến Cá nhân là nói đến sự trái ngược với tập thể. Cái Tôi được thể hiện cụ thể ở nhiều khía 15
18 cạnh, còn Cá nhân mang tính chất khái quát, nghiêng về đạo đức và sự ràng buộc về trách nhiệm Con người cá nhân Nhật Bản Trở lại với đặc tính của con người phương Đông là sự thống thuộc và tính cộng đồng, yếu tố này được phát triển thành đỉnh cao tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở Hàn Quốc, tính cộng đồng thể hiện rõ ở Chủ nghĩa gia đình, mối quan hệ và tính chất của nó trở thành hạt nhân trong tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và chính trị. Tính tôn ti trật tự và gia đình trị là nền tảng và phương châm sống của quốc gia này. Tại Nhật Bản, chủ nghĩa nhóm là cốt lõi xã hội. Trong một xã hội theo định hướng nhóm như Nhật Bản, có rất nhiều từ mang nghĩa "nhóm": グループ (guruupu); Từ gốc Trung Quốc 集団 (shuudan); 球団 (kyuudan: đội); 连中 (renchuu: nhóm trong công ty) Khi họ trò chuyện với người nước ngoài người Nhật thường xưng Chúng tôi : Chúng tôi không thích món ăn này, Chúng tôi thích vẻ đẹp của tự nhiên... Theo Eiko Takamizawa trong Group orientation in Japan: Analysis and application to missions, một công trình tìm hiểu mô hình khung của xã hội Nhật Bản thì lời xưng"chúng tôi" bao hàm một quan điểm đồng bộ. Nếu xem xét từ góc độ lịch đại, "Chúng tôi" không chỉ là người Nhật sống trong thế kỷ này mà còn bao gồmcả tổ tiên của họ. [78] Takeo Doi (chuyên gia tâm thần học người Nhật) khẳng định: Ta thường nói người Nhật có đặc trưng là chủ nghĩa nhóm, trong khi người Mỹ là cá nhân chủ nghĩa. [9, tr.77] đồng thời ông cũng đưa ra bộ đôi Tatemae-Hone nhằm minh chứng cho mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm. Từ Tatemae được định nghĩa là một loại nguyên tắc hay luật lệ đã được xác lập là tự nhiên và hợp thức. Tatemae luôn bao hàm sự tồn tại của một nhóm người đứng sau lưng nó, tán thành nó. Ngược lại Hone chỉ các cá thể thuộc về một nhóm, trong sự đồng thuận với Tatemae, mỗi cá nhân vẫn có động cơ và ý kiến riêng khác với Tatemae và giữ cái riêng đó đằng sau Tatemae. Tatemae chính xác là một sản phẩm của xã hội hóa, và Honne là biểu hiện của sự tự ý thức.nhật Bản đặc biệt nhấn mạnh sự hòa hợp xã hội và sự đồng thuận nhóm.qua những khái niệm như Wa (sự hài hòa), Giri (trách nhiệm, lòng biết ơn và nghĩa vụ đối với cộng đồng) và Kazoku (trung thành với nhóm, công ty). Tính chất nhóm cao độ dẫn đến sự thỏa mãn khi phù hợp với nhóm, cảm giác phù hợp với mọi người rất mạnh mẽ ở Nhật Bản. Người Nhật ghét bỏ lỡ những gì mà người hàng xóm, bạn bè hoặc 16
19 đồng nghiệp đang làm. Nếu một cô dâu mặc bốn chiếc váy đắt tiền khác nhau trong ngày cưới của mình, thì các cô dâu khác cảm thấy họ phải làm điều tương tự Một trong những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của cá nhân Nhật Bản là bị loại trừ khỏi nhóm. Một nhà tâm lý học Nhật Bản đã phát biểu trên một tờ báo tại London rằng: Bản sắc cá nhân của người Nhật Bản rất yếu, họ cảm thấy an toàn hơn khi ở trong nhóm của mình. Ngay từ thuở lọt lòng, trẻ em Nhật Bản đã được dạy về tính kìm chế (Gaman) như một nghệ thuật sống. Gaman là một yếu tố dùng gắn kết xã hội Nhật Bản. Nó ngụ ý tự kiềm chế, đau khổ trong im lặng, phủ nhận chính mình, hài lòng và tự thể hiện để phù hợp với những điều tốt đẹp hơn. Chính sự kìm chế này đã cho đất nước Nhật Bản những phép màu thần kì vượt qua sự tàn phá khốc liệt của thiên tai và chiến tranh. Nhưng dường như nó cũng tạo sự vô cảm của người Nhật Bản (bởi những cảm xúc đời thường của họ đã bị đàn áp ). Đối với người Nhật Bản bị cô lập ra khỏi xã hội còn tồi tệ hơn cả cái chết. Yếu tố này cũng góp phần duy trì sự tồn tại những làng hay khu phố bền chặt dẫn đến một hình thức cộng đồng gọi là Xã hội dư luận. Xã hội dư luận (tiếng Nhật: Uwasa no shakai xã hội của lời đồn đại, đàm tiếu, bình phẩm sau lưng) được hiểu như một cộng đồng người mà hành vi của mỗi một gia đình, mỗi một thành viên bị chi phối bởi những lời đồn đại, đàm tiếu, bình phẩm của cộng đồng nơi người đó sống. Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân. Để tránh điều này, họ luôn luôn làm theo sự nhất trí. Họ chú tâm gìn giữ sự hòa hợp đến mức nhiều khi lờ di sự thật, bởi dưới con mắt người Nhật giữ gìn sự nhất trí, thể diện và uy tín là vấn đề cốt tử. Chính vì vậy trong xã hội Nhật, có rất ít chỗ cho ý tưởng cá nhân, người nào hòa nhập hoàn toàn vào các nhóm thì sẽ được đền đáp.trong khi Chủ nghĩa cá nhân được đề cao ở phương Tây, thì ở Nhật sự tự khẳng định cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào cũng không được khuyến khích. Câu tục ngữ trứ danh ở Nhật: Cây đinh nào ló lên sẽ bị đóng xuống khẳng định thái độ từ chối dứt khoát của người Nhật đối với Chủ nghĩa cá nhân. Những điều này phần nào phác họa cho thấy cái nền chung về khái niệm Con người cá nhân ở Nhật Bản, rõ ràng ở đất nước này vấn đề con người cá nhân không được khuyến khích và phát triển. Vì vậy nội hàm của khái niệm Con người cá nhân rất đặc trưng, đậm chất Nhật Bản. Vậy lịch sử văn học Nhật Bản có hay không có vấn đề con người cá nhân và tại sao thời kì Minh Trị được coi là thời kì tiếng nói cá nhân phát triển mạnh mẽ nhất? 17
20 1.2 Hành trình của Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản Yếu tố văn học chủ đạo ở các tác phẩm là nỗi buồn chứ không phải niềm vui, là nước mắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với các yếu tố mang tính lịch sử, xã hội đây là nhận định của nhà nghiên cứu Numano Mitsuyosh về văn học Nhật Bản. Đọc văn học Nhật Bản, dễ dàng nhận ra những xúc cảm thường nhật, dễ đi sâu vào lòng người, không đao to búa lớn, không mang tầm vóc cao siêu, văn học Nhật Bản đem đến những điều bình dị, sâu xa về nhân sinh. Văn học Nhật Bản là một nền văn học trữ tình, từ Tanka đến Haiku, từ tiểu thuyết đến tùy bút, tất cả đều là những nỗi niềm, những lời bộc bạch, là tâm sự mang tính cá nhân hơn là cái nhìn về xã hội, chính trị. Văn học Nhật Bản cho đến trước thời kì Minh Trị không gắn với yếu tố chính trị. Cổ sự kí (Kojiki) là huyền sử lập nước Nhật Bản, không mang nặng sự kiện lịch sử, điểm nổi bật của Cổ sự kí là niềm vui và nỗi buồn nhân thế. Từ sự tự ái và tính hiếu kì của nữ thần ánh sáng Amaterasu đến tâm trạng thổn thức thương nhớ người yêu của hoàng đế Nintoku rồi lòng ghen tuông của hoàng hậu Iwa Huyền sử của dân tộc Nhật Bản được xây dựng bằng tâm lý thường nhật của con người, vĩ đại từ những điều nhỏ nhặt, sống động từ những gì tĩnh lặng. Ngọn hải đăng của thơ ca Nhật Bản : Vạn diệp tập (Manyoshu) là thế giới của cảm xúc và tình yêu, là khởi nguồn của thơ công dân. Trong Vạn diệp ngũ đại gia nhà thơ Yamanoue no Okura có một phong cách riêng, thơ ông vang lên âm điệu chống bất công xã hội: Trường ca Đối đáp của những người nghèo (Kinkyumondo-uta) thể hiện sâu sắc tình cảm nhân đạo yêu thương cảm thông với những số phận khốn khổ trong xã hội: Giá rét run cầm cập Quấn vội mảnh vải gai Trùm thêm áo khoác ngắn Cho đỡ lạnh đêm dài Rét dẫu chưa hết rét Nhưng còn sướng hơn ai Những người nghèo cùng cực Cha mẹ già, sao đây? 18
21 Con thơ và vợ dại Kêu réo miếng ăn hoài Làm gì cho bớt khổ? Thử trả lời ta hay! [43, tr.58] Thời kì Heian phát triển rực rỡ với văn học cung đình, đặc biệt là văn chương nữ lưu, tiểu thuyết và tùy bút nảy nở. Đời sống cung đình, cuộc sống của quý tộc qua các thể loại thơ ca, tiểu thuyết, tùy bút ghi nhận những tâm sự, cảm xúc cô độc cá nhân, đạt đến sự thăng hoa với Aware. Tiểu thuyết vĩ đại Truyện Genji hấp dẫn ở hệ thống nhân vật nữ xoay quanh người tình lý tưởng của muôn đời-hoàng tử Genji. Mỗi nhân vật nữ là một chân dung riêng biệt, không đồng nhất. Murasaki đã khắc họa diện mạo tầng lớp quý tộc Heian. Trong Truyện Genji (Genji monogatari) mẫu số chung của tầng lớp quý tộc được tô đậm, số phận và đời sống luyến ái của hoàng tử Genji nhập vào vòng tuần hoàn của cuộc đời, hòa vào dòng chảy chung của thời đại. Thời kì này cũng đã xuất hiện tập truyện ngắn đầu tiên: Truyện quan trung cố vấn bên bờ đê (Tsutsumi chunagon monogatari) gồm 10 truyện ngắn, những nhân vật trong các tập truyện này có tính cách kì quặc không giống như những nhân vật luôn thưởng ngoạn và nao lòng trước cái đẹp ở các sáng tác khác. Họ thích nhìn trộm qua khe cửa, nghe trộm người khác nói chuyện, phạm nhiều lỗi lầm, gặp những tình huống dở khóc dở cười. Và đặc sắc hơn cả là truyện Tiểu thư yêu sâu bọ (Mushi mezuru himegimi) tính cách và hành động của tiểu thư yêu sâu bọ vượt ra khỏi lề lối giả tạo của xã hội thời kì đó. Tập truyện này chống lại thị hiếu về cái Đẹp đã được tôn thờ trong suốt một thời gian dài, đánh dấu cho ráng chiều của thời đại Heian, những giá trị được tôn thờ qua bao năm tháng giờ đây bắt đầu tẻ nhạt. Tác phẩm này ngấp nghé ngưỡng cửa cho những đề tài thực tế, khám phá hiện thực trần trụi của con người. Đỉnh cao của văn học Heian còn được đánh dấu ở sự nở rộ của thể loại tùy bút và nhật kí, với thể loại này tâm tư tình cảm của con người được biểu lộ chân thật nhất, rõ ràng nhất. Chính những tập tùy bút này lại khắc họa rõ nét chân dung của tác giả, trong khi những tư liệu về họ chẳng còn lại được bao nhiêu. Tùy bút Chẩm thảo tử (Makura no Soshi) của Sei Sonagon là đỉnh cao của thể loại này, cách viết của Chẩm thảo tử rất tự do, đề tài bao gồm tất cả kinh nghiệm, những điều mắt thấy tai nghe, cảm tưởng về cuộc sống xung quanh. Tác phẩm này có 300 đoạn in đậm dấu ấn cảm xúc và thẩm mỹ nhạy bén của tác giả Thể loại tùy bút và nhật kí với đặc 19
22 trưng theo dõi những biến chuyển nội tâm, khả năng tự chiếu đã tạo điều kiện cho con người bật ra tiếng nói cá nhân mạnh mẽ và nhạy bén. Văn học thời cận đại (thời kì Edo) là văn học bình dân, thời kì của văn chương phù thế nổi tiếng với Ihara Saikaku (Tiểu thuyết), và Chikamatsu Mozaemon (Múa rối Joruri và ca kịch Kabuki) Đề tài nổi bật trong các tác phẩm của Chikamatsu là sự xung đột giữa Ninjo và Giri. Ninjo (nhân tình) là những tình cảm và đam mê của con người, trong khi đó giri (nghĩa lí) là những bổn phận và đạo lí. Mối xung đột giữa cá nhân và xã hội đó rất khó hòa giải, dẫn đến cái chết bi thảm của các nhân vật chính. Giri của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh: gia đình, thị tộc, giai cấp, xứ sở, thời đại, tư tưởng.trong khi đó Ninjo là những tình cảm cuồng nhiệt, say đắm của con người muốn vượt ra ngoài những ràng buộc đó. Tác phẩm tiêu biểu của đề tài này là Tự sát đôi ở Sonezaki, Tự sát đôi ở Amijima, Cây thông bật rễ, Cuộc chiến Kokusenya ), trong đó nổi bật tư tưởng của Chikamatsu muốn nhân tình và nghĩa lí bổ sung lẫn nhau, quân bình trong cuộc sống. Dù nhân tình thường phải hi sinh nhưng chính vì vậy mà nghĩa lí trở nên khoan dung hơn. Đóng góp lớn nhất của thời kì Edo đối với văn học Nhật Bản là đã sản sinh ra thi sĩ-thiền sư kiệt xuất Basho với thể thơ Haiku thâu tóm vũ trụ trong một hạt cát : Ta nhìn sâu xa Đóa hoa nở ở vết nứt trên tường Bên hàng giậu nở Cành nazuna. (Basho) Tôi nhổ hoa ra khỏi vết nứt kia Giữ cả rễ lẫn thân trong tay tôi, Này hoa nhỏ nếu tôi có thể hiểu được Hoa là gì cả rễ lẫn thân, tất cả mọi thứ, Tôi có thể biết được Chúa trời và con người là gì. (A.Tennyson)1F1 [39, tr7-9] Tiến sĩ D.T.Suzuki chuyên gia nghiên cứu Thiền học của Nhật Bản sử dụng ví dụ này để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa tư duy phương Đông và phương Tây, ở đây chúng 1 Alfred Tennyson ( ) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Anh, đề tài nổi bật trong thơ ông là truyền thuyết cổ, vấn đề xã hội, sự quan sát thiên nhiên nhạy bén 20
23 tôi sẽ xem xét kĩ hơn ở sự bộc lộ của con người cá nhân trong hai bài thơ này. Chúng ta vẫn cho rằng người phương Đông yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên hơn người phương Tây, bằng chứng là Basho không thô bạo như Tennyson, ông lặng lẽ nhìn ngắm bông hoa trong sự sống của nó, trong sự hòa nhập của nó với đất trời bằng tình cảm đắm say của một người yêu quý thiên nhiên rất mực, còn Tennyson thì ngắt bông hoa ra khỏi sự sống của nó, xem xét nó từng đường gân thớ thịt bằng con mắt của lý trí, lối tư duy khoa học Nhưng rõ ràng tư thế và khát vọng trước thiên nhiên của Tenyson là sự chủ động, dứt khoát và ham học hỏi khác hoàn toàn so với Basho. Thiền sư Basho ngắm cành hoa trong sức sống của nó, ông như một người bạn rất đỗi dịu dàng của hoa. Nhưng có lẽ sâu xa hơn là sự tôn sùng tự nhiên và cảm nhận mình là một phần tự nhiên của Basho. Người phương Tây nhận thức, khám phá và chinh phục tự nhiên còn người phương Đông thì dừng ở sự nhận thức, khám phá. Họ luôn trong tâm trạng nương theo thiên nhiên để đạt đến trạng thái hòa hợp cùng vũ trụ. Tennyson muốn từ bông hoa để hiểu hoa, hiểu mình, hiểu Chúa trời hay nói cách khác là muốn truy nguyên về nguồn cội. Nhà thơ tách mình ra, độc lập hoàn toàn với đối tượng đang tìm hiểu để nghiên cứu. Con người cá nhân ở đây khao khát hiểu mình, hiểu người và muốn hiểu cả vũ trụ bao quanh mình, đó là sự ham muốn vô cùng vô tận của một người tự chủ, tự tin, độc lập và không bị ràng buộc. Còn Basho thì lại tìm sự giải thoát ở một bông hoa, con người cá nhân tìm sự đồng cảm, đồng thuận để cùng ngẫm nghĩ và thâm nhập. Không như Tenyson, để hiểu được bông hoa, Basho đã trở thành bông hoa và từ bông hoa Basho thẩm thấu bí mật của vũ trụ rồi quay trở lại chiêm nghiệm bản thân mình. Đặc điểm của con người cá nhân Nhật Bản hiển hiện rõ ràng qua bài Haiku của Basho. Về thực chất, Con người cá nhân trong văn học truyền thống Nhật Bản được hiểu như thế nào? Đó không phải là con người thức tỉnh (trong xã hội Việt Nam thời trung đại) vốn đã quen làm theo, nghe theo tiếng nói của một cộng đồng. Đó cũng không phải con người cá nhân mạnh mẽ, dứt khoát của phương Tây luôn tìm cách vượt trội so với cộng đồng và cộng đồng tôn trọng điều đó như một giá trị thuộc về quyền và tư cách con người, do đó con người được phát huy tự do và năng lực cá nhân một cách tối đa. Ở Nhật Bản đó là tự do trong phụ thuộc, cá nhân vẫn có mong muốn riêng, vẫn làm những điều mình thích nhưng họ vẫn nhìn về nhóm của mình. Nữ thi sĩ Komachi thổn thức với tình yêu của mình 21
24 trong bài thơ Tanka, là đang hòa vào dòng chảy chung của những vần thơ trữ tình, của trào lưu thời đó. Sei Shonagon với tùy bút Chẩm thảo tử mang những suy tư và nhận xét riêng của mình, là đang ghi chép lại cuộc sống của bộ phận quý tộc cung đình. Họ luôn có một nhóm mà mình thuộc về và nhóm này không chiều theo những ham muốn cá nhân, vì thế cá nhân không có điều kiện vượt lên trên nhóm (vượt lên không mang nghĩa tài năng nổi trội mà là suy nghĩ và hành động chệch ra ngoài sự cho phép của nhóm). Xung đột giữa Giri và Ninjo được xem là biểu hiện rõ rệt nhất cho tính chất của con người cá nhân Nhật Bản, khi mối quan hệ này trở nên vô cùng mệt mỏi thì Nhật Bản va chạm với làn sóng tự do cá nhân của phương Tây, những tưởng sẽ dung hòa vì tìm được lối đi mới nhưng con người cá nhân Nhật Bản về bản chất vốn đã khác biệt, lại chịu đựng thêm những xung đột mới vì không đạt được tự do theo mong muốn. Hai khái niệm Ninjo và Giri (biểu hiện cho sự xung đột giữa cá nhân và xã hội của Nhật Bản) biểu hiện rõ rệt trong thời kì Edo và bùng phát mạnh mẽ ở thời kì Minh Trị. Trong số các khái niệm từ phương Tây, các nhà văn Nhật Bản tiếp thu nhiều nhất chính là Chủ nghĩa cá nhân, được thể hiện rõ rệt nhất trong thể loại tiểu thuyết tự thuật (shishosetsu). Sự cô đơn của cá nhân tự ý thức đã trở thành chủ đề xuyên suốt của văn học thời kì này: Cuộc Canh tân đã đặt nước Nhật vào bối cảnh quốc tế. Đến nỗi, cả trên mặt bằng trong nước cũng như trong quan hệ với nước ngoài, Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ và cũng phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng nặng nề. Những nhà trí thức thời đó cảm thấy cần có một nền văn học tiểu thuyết tạo cho người Nhật ở thời đại mới đó một tiếng nói riêng, và họ ra sức đi tìm nó. Đây chính là bước đầu của cái mà người ta gọi là nền văn học Nhật Bản hiện đại. Những người tiên phong của nền văn học này là những trí thức được giao một sứ mệnh, đều có một giọng nói và cách cảm nhận ăn sâu trong hiểu biết về những nhà văn cổ điển Trung Hoa. Họ thêm thắt vào đó các nghiên cứu khác, đặc biệt là về văn học Nga, Đức, Pháp, Anh Họ dịch riêng lẻ các tác phẩm châu Âu và dùng nó như bàn đạp để tạo nên viễn cảnh của thời đại mới, khi đã cắt được ràng buộc với những qui ước của nền tảng văn học cũ. Trong số đó có Shimei Futabatei, chuyên về văn học Nga, Sôseki Natsume, quen thuộc với văn học Anh, Ogai Mori, nghiên cứu tiếng Đức và Pháp. Vậy là ở Nhật Bản đã tồn tại một dòng tiểu thuyết từ cách đây hơn một thế kỷ đã làm cầu nối giữa những trí thức thời Minh Trị với những nhà văn hiện đại. [63] 22
25 Sau hơn ba trăm năm đóng cửa tuyệt giao với thế giới bên ngoài, Nhật Bản ngủ kĩ đã thức dậy trước làn gió mới từ phương Tây thổi tràn vào trên tất cả mọi lĩnh vực. Nền văn học hiện đại, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân. Văn học truyền thống, cổ đại của Nhật Bản, khi tiếp nhận ảnh hưởng văn học và tư tưởng mới của Tây Âu, thay đổi đặc thù thành nền văn học tôn trọng tính cá nhân và việc miêu tả con người, miêu tả cá tính trở thành mục tiêu lớn nhất, được gọi là phương pháp tả thực, tiểu thuyết trở thành trung tâm của nền văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, văn học Nhật Bản đã hiện đại hóa với vai trò là nền văn học của nhân dân (từ văn học chính trị đến văn học của quần chúng nhân dân). Các trào lưu văn học nở rộ cùng nhiều trường phái lý thuyết khác nhau đã tạo nên bức tranh phong phú đầy màu sắc cho văn học thời kì này. Tiểu luận Bản chất của tiểu thuyết (Shosetsu shinzui) của Tsubouchi Shoyo ( ) xuất bản năm 1885, đã đặt nền móng cho nền lý luận văn học hiện đại: phủ nhận lập trường luân lý khuyến thiện trừ ác của những tác phẩm thời kì trước, chủ trương tôn trọng thái độ tâm lý khách quan, đề cao cảm xúc của con người. Vì vậy nó còn được gọi là Chủ nghĩa tả thực, tác phẩm tiêu biểu theo khuynh hướng này là Phù vân (Ukigumo) của Futabatei Shimei. Tác phẩm này diễn tả ảnh hưởng đậm nét của phong trào Âu hóa lên đời sống tình cảm của con người, đặc biệt là những thanh niên, đồng tiền và sự hào nhoáng có sức mạnh vô cùng chi phối tính cách của con người. Chủ trương của chủ nghĩa tả thực là nội dung của cuộc tranh luận văn học đầu tiên vào những năm 1890 khi một số nhà phê bình khác như Ozaki Yukio ( ) và Shimada Saburo ( ) nêu cao vai trò của một nền văn học khai hóa mang nặng tính giáo dục và xem cảm xúc con người như là biểu hiện của một loại văn học suy đồi. Cuộc tranh luận giữa Kitamura Tokoku ( ) và Yamaji Aizan ( ) về những cá nhân kiệt xuất và con người bình thường trong văn học. Trong khi Aizan quan niệm những con người bình thường cần được giáo hóa những vấn đề luân lý thông qua sự ngưỡng vọng những cá nhân kiệt xuất thì Tokoku lại ý thức sâu sắc về sự cảm thông của những cá nhân kiệt xuất hướng tới đám đông vô danh, và nhấn mạnh giáo dục không thể thực hiện được nếu thiếu sự cảm thông. Một khuynh hướng quan trọng khác được hình thành sau chiến tranh Nhật-Thanh là khuynh hướng lãng mạn. Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này đả phá truyền thống (hình thức và đạo đức cũ) để tìm sự giải phóng của bản ngã về mặt tình cảm qua đại diện là 23
26 nhà văn Kitamura Tokoku và những tác phẩm buổi đầu của Mori Ogai. Chiếm vị trí chủ lưu trên văn đàn vào cuối thời Minh Trị là chủ nghĩa tự nhiên. Nếu chủ nghĩa tả thực tìm cách diễn tả một cách khách quan hiện thực thì chủ nghĩa tự nhiên chú trọng phân tích con người và xã hội để đi tìm chân lý. Từ việc điểm qua những trào lưu chính của văn học Nhật Bản cận hiện đại, chúng ta nhận thấy đề tài chủ yếu ở thời kì này là sự xung đột giữa mới và cũ, tuy nhiên nó chỉ ở bề nổi, sự xuất hiện của con người cá nhân với tiếng nói riêng tha thiết mới tạo nên sóng gió trong thời kì này. Giá trị con người cá nhân trong văn học Nhật Bản tiếp nối dòng chảy quá khứ, không chỉ thể hiện trong chuỗi quan hệ và sự ràng buộc của xã hội mà còn xoay sở trong bầu không khí của những giá trị ngoại nhập. Bề mặt của thời đại Minh Trị là tôn trọng tự do cá nhân, nhưng tự do ấy là do tầng lớp cầm quyền quy định, yêu cầu và bắt buộc. Cá nhân thực chất không có được tự do như mình mong muốn. Văn học thời kì này phát triển mạnh mẽ bởi những ý thức cá nhân muôn hình muôn vẻ, nó không chỉ là biểu hiện của tiếng nói tự do mà còn là tiếng nói đòi hỏi tự do, tiếng nói yêu cầu được lắng nghe Natsume Soseki và lập trường cá nhân Lập trường cá nhân trước xã hội Natsume Soseki được sinh ra ở Tokyo vào năm 1867, chỉ một năm trước khi bắt đầu thời đại Minh Trị Duy Tân. Soseki ra đời khi cha mẹ ông đã già vì vậy ông được gửi đi làm con nuôi trong tám năm. Ông có niềm say mê đặc biệt với văn học Trung Quốc và văn học truyền thống Nhật Bản, tuy nhiên ông lại chọn con đường sự nghiệp của mình theo xu hướng chung của tinh thần hiện đại hóa thời hiện đại. Ông chọn học Tiếng Anh và trở thành một trong những sinh viên xuất sắc khoa văn học Anh của trường đại học Tokyo. Sau khi tốt nghiệp, Soseki dạy tiếng Anh tại các trường trung học. Ông kết hôn ngay sau đó và cuộc hôn nhân không hạnh phúc đã để lại dấu ấn sâu đậm trong những sáng tác của ông. Tình cảm vợ chồng trong tác phẩm của Soseki thường rất lạnh nhạt. Nhật Bản thời kì Tokugawa khiến giới phương Tây kinh ngạc bởi sự thịnh vượng của nền giáo dục. Nền giáo dục Tokugawa đã để lại một tài sản giá trị: số lượng người dân biết đọc biết viết ngày một tăng, đội ngũ nhân tài đông đảo, chính sách chú trọng bồi dưỡng năng lực, tinh thần và đạo đức. Nó được coi là nền tảng để triều đại Minh Trị thực hiện 24
27 chính sách giáo dục mới. Để theo kịp các nước phương Tây, chính quyền Minh Trị chủ trương gửi nhân tài đến học tập tại các nước tiên tiến. Soseki được cử sang Anh du học trong chương trình Học tập phương Tây của Nhật Bản, ông đến nước Anh trong tâm trạng không thoải mái. Tâm lý sợ hãi và tự ti trước sự xa lạ và khác biệt văn hóa khiến ông thu mình lại. Giữa hai bờ Đông-Tây, Soseki chủ trương khẳng định lập trường cá nhân của riêng mình, vấn đề này trở thành cốt lõi trong phương châm sống và sáng tác của ông. Soseki luôn chú trọng đến tự do của mỗi cá nhân, chèn ép tự do là không tuân theo quy luật tự nhiên. Ông cho rằng chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa dân tộc không nhất thiết phải đối chọi nhau. Cá nhân có tự do của riêng mình nhưng khi đất nước cần, con người biết tiết chế tự do của mình để thực hiện nghĩa vụ với đất nước. Tư tưởng này xuất phát từ cái nhìn về thời cuộc của Soseki: làn sóng hiện đại hóa nhanh chóng đã cuốn con người vào vòng xoáy mù quáng, bắt chước phương Tây không hề suy tính. Để tránh trở thành nô lệ của các nước Tây Âu, Soseki muốn nước Nhật nhận thức rõ tầm quan trọng của cá nhân. Là một người khép kín và khó tiếp nhận những gì khác lạ vì vậy đến nước Anh xa xôi quả là một thử thách lớn đối với Soseki. Đây cũng là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời của ông: Hai năm trải qua ở Anh là hai năm khó chịu nhất trong đời tôi Trong số các quý ông Anh, tôi sống như một con chó xù xì trong một bầy sói" [72] Điều đặc biệt là Soseki rất hay ví von so sánh mình và những người không tốt với những con chó. Trong bài phát biểu khi từ bỏ vị trí giảng viên tại trường đại học về làm việc cho báo Asagi, hình ảnh ví von này được lặp lại: Khi còn giảng dạy tại các trường đại học, tôi đã bị bao vây bởi những con chó không ngừng gào thét, vô cùng khó chịu. Những con chó là một phần lý do khiến những bài giảng của tôi tệ hại. [72] Chính lối sống khép kín và thu mình đã cho Soseki một cái nhìn kĩ lưỡng về thế giới phương Tây hào nhoáng trước mắt vì thế mục đích quan trọng đến Anh của ông là nhằm: Để từng bước tìm hiểu về bốn chữ tự chủ bản thân và để chứng minh điều đó, ông đã say sưa với những nghiên cứu khoa học và những suy tưởng triết học. Với mục đích xây dựng lập trường cá nhân của mình, Soseki đã có sự so sánh giữa Nhật Bản và phương Tây phong phú và sâu sắc: các mẩu ghi chép, thư từ, nhật ký của ông là sự quan sát kĩ lưỡng đời sống văn minh phương Tây : Etiquette của phương Tây thì rất phức tạp, còn ngược lại ở Nhật Bản thì lễ nghĩa chỉ là sự bảo vệ cái tôi ích kỷ mà thôi. Đặc biệt là Nhật Bản không thoát được tính artificiality nên tuy không lễ nghĩa mà lại có artificiality, và cũng có vulgarity gắn liền với sự thiếu lễ 25
28 nghĩa trong giao tiếp, còn nếu không có lễ nghĩa mà có spontaneity thì chưa hẳn có lợi mà còn có hại, thêm vào đó còn có cái hại của nghi lễ là sự ngớ ngẩn.(nhật ký ngày 15 (thứ hai) tháng 4 năm Minh Trị 34) Vì nguyên tắc chính trong giao tiếp ở phương Tây là không làm tổn thương hay phật ý người khác, nên họ không để cho người ngoài nhận thấy vẻ mặt hay tâm trạng không vui của mình. Có thể nói việc che giấu tình cảm là rất cần thiết, tuy nhiên điều đó không được thể hiện rõ ở người Nhật Bản. (Mẩu ghi chép số 12, năm Minh trị 34) [72] Yukichi Fukuzawa, nhà tư tưởng chính trị lớn nhất của Nhật Bản thời Minh Trị cho rằng: độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân. Với cách nghĩ này, Soseki nhận định thời Minh Trị là thời kỳ hạn chế sự phát triển cá nhân: Đất nước lâm nguy thì tự do cá nhân bị hạn chế, đất nước thái bình thì tự do cá nhân được mở rộng, đó là chuyện đương nhiên. Nếu đã có dù chỉ một chút nhân cách cũng không thể nào bỏ qua điều đó để có thể thờ ơ, bàng quan và chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân trong trường hợp có nguy cơ mất nước Mặt khác, ông lại kiến giải rằng: Quốc gia là quan trọng, nhưng rõ ràng chúng ta không thể cứ nhắc mãi từ quốc gia suốt ngày để tỏ ra gắn bó với tổ quốc. [72] Chính kiến này cho thấy Soseki có cách nhìn sâu sắc từ sự tiếp thu vấn đề cá nhân ở phương Tây. Con người phương Đông luôn tôn sùng quốc gia, cống hiến trọn vẹn, làm mờ hóa bản thân. Nhưng muốn phát triển một quốc gia thịnh vượng tất yếu mỗi cá nhân phải tự tu dưỡng, vừa biết phát huy bản thân vừa biết kiềm chế để hòa vào lợi ích chung mới là một cá nhân xuất sắc Lập trường cá nhân trong sáng tác văn chương Natsume Soseki thuộc trường phái Dư Dụ còn gọi là trường phái văn chương Cao sang, chống lại chủ nghĩa tự nhiên. Ông thấm nhuần tư tưởng trong cuốn Văn chương Anh thế kỉ 18. Kinh nghiệm rút ra từ chủ nghĩa hiện thực của văn chương Anh giúp Soseki thấy được hạn chế của lối miêu tả theo chủ nghĩa tự nhiên: chủ trương sáng tác những tác phẩm chan chứa tình cảm và làm xúc động lòng người. Ông lo ngại sự sùng bái quá mức chủ nghĩa vật chất của phương Tây sẽ gián tiếp dẫn đến sự sùng bái chủ nghĩa tự nhiên. Soseki được biết đến không chỉ là cây bút đầy nội lực trong sáng tác mà còn là nhà lí luận sắc sảo trong những công trình lý luận. Những tác phẩm lý luận Bungakuron(Văn học luận, 1907), Bungaku hyoron (Văn học bình luận, 1909), tiểu luận Gendai Nihon no kaida 26
29 (Kỷ nguyên ánh sáng của nước Nhật Bản hiện đại, 1911), Watashi no kojinshugi (Chủ nghĩa cá nhân của tôi, 1915) Ở lĩnh vực sáng tác hay lí luận Soseki đều hướng đến mục đích khám phá bản chất của văn học.trong Bungakuron.Từ vốn kiến thức uyên bác về văn học Anh. Năm 1907 ông xuất bản Bungakuron, nêu tính cấp thiết của việc đọc. Soseki sử dụng phương pháp tiếp cận của tâm lý học hiện đại và xã hội học, ông tạo ra một mô hình để nghiên cứu các kinh nghiệm có ý thức của văn hóa đọc theo thời gian theo từng nền văn hóa. Điều này được ông tiếp tục phát triển trong các bài tiểu luận, nghiên cứu trong suốt sự nghiệp của mình. Natsume Soeki khẳng định hai yếu tố then chốt trong văn học: tri giác và cảm xúc. Tri giác mà không cảm xúc thì là tri giác trong nhận thức khoa học, cảm xúc mà thiếu tri giác thì đó chỉ là tiền-văn chương. Nhận định này tuyên chiến với lý thuyết của chủ nghĩa tự nhiên, vốn chủ trương viết tự thuật bằng phong cách thông tục, thiếu dấu ấn tư tưởng và tình cảm của tác giả. Với đánh giá sâu sắc về văn học Anh thế kỷ XVIII tiểu luận Bungaku hyoron đặt ra những tiêu chí mà người Nhật cần có để thưởng thức văn học ngoại quốc. Tiểu luận của Soseki chú ý nhiều đến các khái niệm triết học, tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đến con người Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm của Soseki, thì những tư liệu về cuộc đời ông lại không mang tính quyết định để khám phá những nhân vật khác của nhà văn. Như nhà văn Marcel Proust đã từng viết: Con người nhà văn trong đời thực và con người nhà văn trong tác phẩm chẳng mấy quan hệ gì với nhau. Với Soseki, trong nội tại tác phẩm ở giai đoạn đầu, tính cách nhân vật có sự biến đổi phức tạp bởi lẽ : nhân vật chịu sự tác động của sự kiện, chính vì thực tại luôn biến động và chảy dòng thời gian, sự kiện không theo ý muốn chủ quan của tác giả nên nhân vật của Soseki luôn mới lạ, luôn vận động, luôn đem lại cảm giác thích thú được tìm hiểu cho độc giả. Điều này xuất phát từ phương châm sáng tác của Soseki: xem xét tác phẩm phải trong hoàn cảnh xã hội. Từ những vấn đề đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki cần đặt trên nền tảng Nhóm xã hội Nhật Bản; Vấn đề con người cá nhân có sự tiếp biến từ truyền thống và giao thoa văn hóa phương Tây; Nguồn tư liệu về tình hình xã hội Nhật Bản thời kì Minh Trị là cơ sở quan trọng để tìm hiểu những vấn đề con người cá nhân trong các sáng tác của Soseki. 27
30 CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI CÁ NHÂN-NỖI LÒNG TRƯỚC THỜI CUỘC Con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki không phải là tiếng nói của cái mới đấu tranh với cái cũ mà là tiếng nói khẳng định lập trường cá nhân giữa hai bờ Đông-Tây, là tiếng nói cảnh báo, nó khác tiếng nói khát khao đòi hạnh phúc cá nhân trong sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Muốn tìm hiểu cặn kẽ vấn đề Con người cá nhân phải nhìn nhận nó trong tập thể, đặc biệt đối với Nhật Bản, đất nước có truyền thống lâu đời về nhóm xã hội. Nhân vật của Soseki được miêu tả trong nhóm xã hội của mình, bao gồm cả gia đình, bạn bè. Tuy nhiên bản chất của nhóm trong tác phẩm của Soseki còn mang một ý nghĩa khác. Sự kết nối giữa các cá thể chỉ là bề ngoài, không phải là sự kết nối bền chặt, mãn nguyện, mà là kết nối bắt buộc do tâm lí sợ lạc lõng, sợ cô độc. Từ khái niệm nhóm truyền thống đến nhà văn cận hiện đại Soseki đã mang thêm nét nghĩa mới, biểu trưng cho sự rạn vỡ từ bên trong. Cấu trúc trong tác phẩm Soseki được chúng tôi khảo sát đó là: qua sự kiện tác độngcon người hành xử lưỡng phân (giữa yêu cầu của nhóm hay nhu cầu của chính bản thân mình), từ đó tính cách con người được bộc lộ. Vấn đề con người cá nhân trong các sáng tác thời kì đầu của Natsume Soseki được chúng tôi khảo sát từ cá nhân trong tương quan với xã hội đến cá nhân đối diện bản ngã (Người viết nhấn mạnh) Cá nhân cô đơn giữa Nhóm Cá nhân cô đơn giữa tình thân Lối ứng xử theo cộng đồng đều có cả ở Đông- Tây nhưng ở phương Đông nó mang nặng tính thống thuộc một cách tự nguyện. Ở Nhật Bản, hãy xem nhóm của anh ta sẽ biết anh ta là người như thế nào. Nhân vật trong tác phẩm của Soseki rất đặc biệt bởi không thể đoán biết nhân vật trong nhóm của họ. Khái niệm nhóm và cá nhân thuộc về nhóm trong tác phẩm của Soseki có chiều kích phức tạp hơn. Với người Nhật, tất yếu ai cũng có một nhóm cụ thể, người thân trong gia đình là nhóm thân thiết nhất.soseki miêu tả những con người cô đơn ngay chính trong những mối quan hệ thân thiết nhất. Ông đi từ cấp độ gần gũi nhất đến xa nhất của nhân vật trong nhóm và đi theo chiều ngược lại của thước đo tình cảm: càng thân thiết càng lạnh nhạt, càng xa lạ càng tin tưởng. (Người viết nhấn mạnh). Trong mối quan hệ gia đình, những nhân vật của 28
31 Soseki đều không tìm được sự chia sẻ. Ngay cả vợ chồng đầu gối tay ấp cũng dấy lên sự hoang mang về sự gắn kết tình thân đang vụn vỡ. Tình yêu trong tác phẩm của Soseki thường bị bóp méo và miêu tả với giọng điệu châm biếm. Tình yêu, tình nghĩa vợ chồng không có sự thấu hiểu và đồng cảm. Ông giáo Kushami trong Tôi là con mèo là điển hình cho người đàn ông ghét vợ, ông ta luôn càu nhàu và châm chọc vợ mình, luôn thao thao bất tuyệt những điều bà vợ không biết. Ông ta ngồi điềm nhiên trong khi người vợ cuống quýt hỏi bạn ông cái tên ông chồng vừa gọi châm biếm mình có nghĩa là gì? Là hình ảnh hài hước và xót xa. Họ sống mà không quan tâm nhau, từ cái thắt lưng đến cái áo khoác lụa Haori, chỉ đến khi nhà bị mất trộm, đối phương mới biết người đầu gối tay ấp của mình có trang phục như thế nào. Cô gái Nami và người chồng trong Gối đầu lên cỏ tồn tại như hai người quen biết lâu ngày, họ không hiểu gì về nhau và quan hệ vợ chồng của họ rất mong manh. Tình cảm vợ chồng trong những tác phẩm của Soseki nổi bật cảnh đồng sàng dị mộng, càng trăn trở, càng muốn biết họ lại càng không biết gì về nhau. Tác phẩm sáng tác trong giai đoạn chuyên nghiệp: Nỗi lòng (Kokoro) miêu tả một người vợ đến tội nghiệp, nếu nói rằng Tiên sinh là một người đàn ông yêu vợ hẳn đó là một tình yêu méo mó, người vợ chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc. Bà không thể bước vào thế giới của ông, bà bất lực và quay quắt trong ý nghĩ dằn vặt cả đời rằng mình là nguyên nhân của nỗi buồn dai dẳng trong ông, là một phần của xã hội mà ông vô cùng căm ghét. Những tác phẩm của Soseki khiến độc giả thấy nhói lòng về mối quan hệ gia đình lỏng lẻo, chông chênh Trong gia đình, cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) là một cái gai, mẹ đuổi cậu đi đến ở nhà bà con, không muốn gặp mặt cho tận đến lúc lâm chung; cậu bị ông bố xem là người vô tích sự, không bao giờ gần gũi. Quan hệ giữa cậu với anh là tranh giành, đánh nhau Khi cha mất, mối dây liên hệ duy nhất giữa hai anh em cũng không còn nữa, họ giải quyết mối quan hệ bằng việc chia tiền và đường ai nấy đi kể từ đó tôi không gặp anh nữa [34, tr.28] Câu nói này được lặp lại cuối tác phẩm, là cái kết của mối quan hệ giữa cậu ấm và Nhím (Sau khi trừng trị Áo Đỏ và Hề Trống, cậu ấm và Nhím chia tay nhau: Tôi chưa có dịp gặp lại hắn lần nào [34, tr.234]. Trong cuộc đời mình, cậu ấm lỗi hẹn với mọi mối quan hệ thân thiết, cho đến cuối cùng bà Kiyo-người quan tâm cậu cũng không ở bên cậu lâu dài. 29
32 Ông giáo Kushami (Tôi là con mèo) có rất nhiều bạn bè, phòng khách của ông không bao giờ vắng tiếng người. Meitei và Kanghetsu là những người thường xuyên lui tới nhất, một người là bạn thân nhất, một người là học trò ông ưng ý nhất nhưng ngay cả những câu nói đùa của Meitei ông cũng không nhận ra; Kangetsu có vợ lúc nào ông cũng không hay biết. Phòng khách của ông giáo là nơi họp mặt của những trí thức nhàn rỗi để họ tạo dựng mối quan hệ. Ngoài ra, giữa họ không có sự gắn bó thân thiết nào khác. Những trí thức trong tác phẩm của Soseki là những người nhàn rỗi và tỏ ra nhàn rỗi, họ không muốn tham gia vào thế sự. Anh Kanghetsu (Tôi là con mèo) luôn bận bịu về luận án tiến sĩ với đề tài về lực học, treo cổ (những đề tài như những câu chuyện phiếm) và mục đích làm luận án tiến sĩ là được cưới tiểu thư giàu có. Chàng họa sĩ (Gối đầu lên cỏ) nhàn nhã buồn tình tìm đến nơi thôn dã. Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) không bận rộn với việc giảng dạy mà rất nhàn rỗi quan sát người khác Kiểu nhân vật trí thức này được Soseki miêu tả khá tinh tế, thay vì phải cống hiến cho đất nước, họ thu mình lại, không quan tâm tới quốc gia đại sự, họ lặng lẽ với thế giới riêng của mình. Thật khó để tìm kiếm tình bạn đích thực trong tác phẩm Soseki, bề ngoài họ rất hợp nhau, cùng chung chí hướng mỉa mai xã hội nhưng về thực chất họ không hề có bạn, họ là những người thấy người khác na ná giống mình và tìm đến (nhận thức này dựa trên ý thức nhóm, họ cho rằng mình thuộc về nhóm đó và cảm thấy cần phải sinh hoạt trong nhóm đó, các cá nhân tồn tại như những mảnh ghép không vừa vặn). Cậu ấm và Nhím (Cậu ấm ngây thơ) là những người cùng chung chí hướng trả đũa Áo Đỏ, họ tạm thời sát cánh bên nhau, họ cảm thấy cô độc khi không có chiến hữu, Nhím không dám phản kháng cho đến khi cậu ấm xuất hiện, cậu ấm không biết trả đũa Áo Đỏ thế nào nếu không có Nhím. Cùng đi trên một con đường ngắn và khi đạt được mục đích, họ tách ra, không gặp lại nhau nữa. Ông giáo Kushami xem Kangetsu là học trò ưng ý nhất của mình nhưng cũng không hiểu hết về anh ta, không biết anh ta kết hôn khi nào, ông giáo thờ ơ với học trò khi đến nhờ ông giúp đỡ. Mối quan hệ thầy trò vốn thiêng liêng trong truyền thống nhưng dưới ngòi bút của Soseki hiện lên thật méo mó. Nếu tinh ý với những sự việc gây phiền toái cho ông giáo Hắt hơi (Tôi là con mèo) thì nguyên nhân đều bắt nguồn từ mối quan hệ thầy trò, điều này gây sự ảo não vô cùng cho ông giáo Kushami. Mối quan hệ nảy lửa giữa cậu ấm và học trò (Cậu ấm ngây thơ) là sự phản ánh sinh động nền giáo dục còn nhiều bất cập. 30
33 Truyền thống ứng xử của người Nhật được chia thành Bên trong và Bên ngoài. Bước ra ngoài ranh giới Bên trong là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác trong không gian Bên ngoài. Nếu nói: Hắn ta tốt bên ngoài nhưng xấu bên trong theo cách hiểu của người Nhật, tức là là cách nói chê bai người đó vì tính ích kỉ và cư xử khó khăn với người trong nhà, trong khi các mối quan hệ bên ngoài của anh ta lại được coi là dễ chịu và đáng trọng, điều này được minh chứng rõ ràng qua hình tượng ông giáo Kushami (Tôi là con mèo). Ông ta coi vợ như một người đáng ghét, luôn chê bai, không muốn nói chuyện nhưng ông ta sẵn sàng ngồi liền hàng giờ để nghe câu chuyện phiếm của ông bạn Meitei dù hay cằn nhằn ông bạn mình, ông quan tâm đến học trò Kangetsu của mình hơn là để mắt đến ba cô con gái nhỏ Trong tác phẩm của Soseki, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội thường rất trái ngược nhau Cá nhân kiếm tìm sự đồng cảm Tiểu thuyết Gối đầu lên cỏ có khung cảnh nên thơ, hữu tình, có cặp nhân vật chính là chàng họa sĩ và cô gái đẹp trong làng nhưng họ không làm nên một câu chuyện tình. Hai nhân vật chính được Soseki sắp đặt trong một mối quan hệ khác: mối quan hệ tri kỷ. Nami không tìm được sự đồng điệu với người chồng đầu gối tay ấp nhưng cô lại tìm thấy cảm giác ấy khi gặp chàng họa sĩ. Soseki tô đậm những vết nứt của quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng, ông đặt sự xa cách trong quan hệ tình thân bên cạnh sự khát khao đồng cảm từ người ngoài, chỉ như vậy con người cá nhân đã đủ chạm đến nỗi cô đơn dù có rất nhiều mối quan hệ. Nami là một nhân vật rất đặc biệt, cô thoắt ẩn thoắt hiện như một bức tranh. Trong mắt dân làng, Nami là một người bất hạnh trong tình cảm. Cô yêu một người nhưng bị ép lấy người khác. Khi chồng phá sản, cô trở về với gia đình nhưng thật ra đó không còn là gia đình của cô nữa. Nami không có bất kì một sự gắn kết nào của tình thân, rời bỏ chồng, gia đình không thấu hiểu, họ xem cô là vết nhơ, Nami lạc lõng giữa những người ruột thịt. Chỉ khi chàng họa sĩ đến, cô mới được thấu hiểu. Cô có thể trò chuyện, chia sẻ quan niệm sống, cái chết, lẽ thật giả trong cuộc đời: Tóm lại là những biểu hiện trên gương mặt cô không thể nào thống nhất về một kiểu. Giống như mê và ngộ tranh đấu với nhau nhưng vẫn tồn tại cùng nhau dưới một mái nhà. Chắc hẳn cái vẻ không hài hòa trên gương mặt cô gái này là bằng chứng cho sự thiếu cân 31
34 bằng trong tâm hồn, và sự thiếu cân bằng trong tâm hồn gắn với tình trạng mất cân bằng trong thế giới của cô. Đó là gương mặt thể hiện một con người bị bất hạnh đè nén và đang chống chọi với bất hạnh. Rõ ràng đây là một cô gái không hạnh phúc. [38, tr.62] Cũng giống Nami, cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) bị gia đình chối bỏ. Những hành động và việc làm của cậu vượt quá giới hạn cho phép của gia đình. Cậu đã khiến gia đình loại trừ mình ra khỏi nhóm nhưng cậu lại có được lòng thương yêu không toan tính của người giúp việc-bà lão Kiyo: Chỉ qua những lời khen ngợi của bà tôi đã tự biết mình là kẻ đạo đức kém nên không mong chờ được một ai dù là kẻ thấp hèn yêu mến. Với mọi người tôi chỉ là một thằng bỏ đi. Thế mà lại được một người như bà Kiyo này yêu quý, chiều chuộng, tôi đâm ra nghi ngờ.thỉnh thoảng ở trong bếp vắng không có ai, bà thường khen tôi : Cậu có tính tốt là rất thẳng thắn. Tôi không hiểu lời bà nói, bởi nếu quả là tôi có tính tốt như vậy thì ngoài bà ra những người khác cũng phải đối xử với tôi tốt như vậy chứ! Mỗi lần bà nói như thế bao giờ tôi cũng nói tôi ghét nghe những lời nịnh nọt. Lúc đó bà lại vui vẻ nhìn vào mặt tôi mà bảo: Vì thế mới là tính tốt! [34, tr.21] Sự nghi ngờ của cậu ấm về tình thương vô điều kiện của bà Kiyo không phải xuất phát từ bản tính nóng nảy, bộp chộp của cậu mà từ nguyên cớ sâu xa: bà Kiyo có cách nhìn nhận riêng về con người Cậu ấm. Bà là một cá nhân đáng quý, tin và làm theo những gì mình cho là đúng, bất kể ảnh hưởng của số đông. Sự lạc lõng ấy của bà, cái tình thương không xuất phát từ ruột thịt ấy khiến Cậu ấm thắc mắc là một điều tất yếu. Bởi hành động của Cậu ấm hợp với suy nghĩ của Kiyo, ngay cả chuyện cậu đặt biệt danh cho tất cả giáo viên trong trường (một việc không bình thường) bà cũng ngầm hưởng ứng, khuyến khích. Khảo sát một số tác phẩm của Soseki, đặc biệt là giai đoạn sau, chúng tôi nhận thấy một quan niệm tình cảm xuyên suốt của Soseki, cũng là nền tảng cho quan niệm nhóm của ông: đó là sự đồng cảm. Soseki thường xây dựng những mối quan hệ tay ba có yếu tố đồng tính. Tam giác tình cảm này được xây dựng dựa trên sự đồng cảm và bền chặt hơn cả tình yêu tình vợ chồng. Ông giáo Kushami thân thiết với Meitei hơn cả vợ mình, ông có thể dành thời giờ để giải thích với Meitei những điều ông nói, có thể tiếp Meitei bất cứ lúc nào, luôn tin tưởng vào những gì Meitei nói. Meitei và người vợ luôn mang đến cho ông giáo 32
35 Kushami sự phiền phức, nhưng cái chịu đựng phiền phức đối với Meitei thật rộng lượng còn với vợ, ông luôn cau có. Ở những tác phẩm giai đoạn đầu, mức độ xa cách giữa mối quan hệ vợ chồng còn mang tính châm biếm, chưa sâu sắc nhuần nhuyễn và rõ rệt bằng những tác phẩm ở giai đoạn sau, đặc biệt là tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro). Tiên sinh lần lượt có hai mối quan hệ với K và Tôi, cả hai đều gắn bó thân thiết với ông đến nỗi, người vợ chỉ như cái bóng lặng lẽ bên ông chồng. Quan hệ vợ chồng theo quan niệm của Soseki không chỉ đơn thuần là hai người sống với nhau, ông cho rằng vợ chồng cũng là hai cá nhân: Muốn sống chung với nhau thì cái cá nhân sống chung ấy cũng phải hòa hợp với nhau chứ!? [38, tr.563] Điều này giải thích vì sao tình cảm vợ chồng trong Soseki thường được miêu tả là những cá nhân không hòa hợp như những mảnh ghép tạm thời. Nhân vật cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) bề ngoài là một nhân vật đơn giản nhưng là cá nhân có vấn đề trong các mối quan hệ. Anh ta loay hoay trong quan hệ giữa Nhím và Áo Đỏ nhưng lại thấy gắn bó với Bí Đỏ, cách miêu tả của Soseki về một anh chàng mạnh mẽ nóng nảy luôn cảm thấy thương tình và rất ân cần với Bí Đỏ rụt rè, nhỏ nhẹ cho người đọc cảm giác về một người đàn ông mạnh mẽ muốn làm chỗ dựa cho một cô gái yếu đuối. Trong cách ứng xử với Áo Đỏ, Áo Đỏ dù đối xử với Nhím thế nào, cậu ấm cũng không mấy bận tâm nhưng khi Áo Đỏ tàn nhẫn với Bí Đỏ, cậu ấm lại không giữ được bình tĩnh, không muốn mình là người nhận lương của Bí Đỏ-người mà anh ta quý mến. Có thể nói việc Bí Đỏ bị đẩy đi dạy học ở tỉnh xa là nguyên cớ mãnh liệt nhất khiến cậu ấm bàn với Nhím về kế hoạch trả đũa Áo Đỏ. Nhân vật Tôi trong mối quan hệ giữa cha mẹ và Tiên sinh trong Nỗi lòng không đơn thuần chỉ là sự giằng xé giữa truyền thống và hiện đại nữa, đó là tình cảm hướng đến một con người thực sự thuộc về thế giới của mình. Hành động bỏ lên tàu của Tôi trong khi cha hấp hối chưa biết mất lúc nào chứng tỏ Tôi không thể thiếu Tiên sinh dù biết ông không còn trên cõi đời này nữa. Mối quan hệ tay ba trong tác phẩm của Soseki còn mang ý nghĩa khác. Tác phẩm Cậu ấm ngây thơ miêu tả cuộc tình tay ba giữa Bí Đỏ-Madona-Áo đỏ, Áo đỏ mặc dù là hiệu phó nhưng đã chiếm đoạt vợ chưa cưới của đồng nghiệp, tình huống chiếm đoạt người yêu hay vợ của bạn là tình huống thường thấy trong tác phẩm của Soseki. Tác phẩm Từ dạo ấy (Sorekara) một tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác chuyên nghiệp của Soseki cũng kể về cuộc sống của một cặp vợ chồng mà theo ông mô tả sự thương yêu và thỏa mãn khó tìm thấy ở những cặp vợ chồng khác nhưng nó vẫn chứa đựng điều gì đó bất ổn bởi nhân vật 33
36 chính Sosuke đã phản bội bạn mình là Yasui để chiếm đoạt O Yone - người yêu của bạn. Tình huống tương tự được gặp lại trong tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro): Tiên sinh sống suốt đời trong dằn vặt vì đã gián tiếp đẩy bạn mình là K vào cái chết khi cầu hôn người trong mộng của K. Chúng tôi cho rằng mối quan hệ tay ba với tình huống chiếm đoạt vợ của bạn được Soseki sử dụng như ngụ ý cảnh báo hậu quả của việc chiếm đoạt những thứ không thuộc về mình, là hiện tượng phổ biến trong làn sóng chạy theo một cách mù quáng văn minh phương Tây. Mối quan hệ tay ba trong tác phẩm của Soseki không đơn thuần là tranh giành tình cảm mà mang nhiều sức gợi. Cuộc tình giữa Bí Đỏ-Madona-Áo Đỏ là sự giễu cợt những người đàn bà hay thay đổi, chính xác hơn là sự phân vân lưỡng lự: bỏ lại truyền thống và ngả về phía hiện đại. Soseki đã miêu tả Áo Đỏ với một phong cách rất Tây, từ cái áo sơ mi đỏ hắn mặc nhằm để nổi bật hơn người khác đến cái lối nói ẽo ợt giọng mũi như con gái và đệm tiếng Tây, tất cả nhằm giúp hắn trở nên sang trọng hơn trong mắt mọi người cùng cái mác hiệu phó của hắn. Điều này không khó giải thích vì sao cô gái xinh đẹp nhất vùng mặc dù đã có hôn ước với Bí Đỏ (người đàn ông hiền lành đúng kiểu truyền thống) vẫn ngả vào vòng tay của Áo Đỏ. Tình yêu tay ba thể hiện sự phân vân giữa truyền thống và hiện đại từng được Fusatabei khai thác trong Phù vân (Ukigumo). Nhiều nhà phê bình cho rằng tên gọi Phù vân ám chỉ số phận nổi trôi của cô gái Osei do sự sắp đặt hôn nhân của bà mẹ nhiều toan tính. Ban đầu bà định gả Osei cho Bunzo, nhưng khi biết Bunzo vừa thất nghiệp, bà ta lại nghiêng sang Noboru, một người biết thu phục lòng người bằng nhiều phương cách và quan trọng nhất là đang thăng tiến trong sự nghiệp. Nhưng sự đời không đơn giản, khi hôn lễ chuẩn bị diễn ra, Noburo lại dan díu với cô em vợ của thủ trưởng cơ quan. Bà Omasa toan tính làm khổ Bunzo-người cháu họ lại bị chính sự toan tính khác làm dở dang đời con gái mình. Nhưng chính nàng Osei ban đầu quyến luyến Bunzo, một chàng trai hiền lành nhút nhát, sống theo chuẩn mực đạo đức Samurai nhưng khi nghe những lời tán tỉnh và hứa hẹn của Noburo, Osei lại lao vào vòng tay của anh ta. Osei là nhân vật điển hình trong xã hội Nhật Bản thời Minh Trị đầy vấn đề tiêu cực. Nàng nhẹ dạ, ham chuộng lối sống phương Tây, dễ bị cám dỗ của vật chất. Khi khảo sát những mối quan hệ tay ba trong sáng tác của Soseki chúng tôi nhận thấy bên cạnh yếu tố chủ chốt là sự đồng cảm, Soseki đặc biệt chú trọng ở khía cạnh an toàn. Những cá nhân dưới ngòi bút của Soseki luôn cảm thấy mình cô độc, lẻ loi bởi tiếng nói yếu ớt lọt thỏm giữa xã hội. Các nhân vật thân thiết với một người nào đó cho họ cảm giác an 34
37 toàn (họ không bị xâm hại đến vỏ bọc, bảo vệ được suy nghĩ riêng của mình). Đó là mối quan hệ giữa ông giáo và con mèo trong Tôi là con mèo (chỉ mình ông giáo cho con mèo tá túc, và bảo vệ nó đến cùng dù nó rất tệ), Cậu ấm và Kiyo, Cậu ấm và Bí Đỏ trong Cậu ấm ngây thơ (nhân vật này không tiếc tình cảm cho Bí Đỏ nhưng lại rất dè chừng Nhím), chàng họa sĩ và cô gái trong Gối đầu lên cỏ (cô gái cô độc tìm thấy sự đồng cảm và thấu hiểu từ chàng họa sĩ). Những cá nhân trong sáng tác của Soseki càng thất vọng về sự gắn bó tạm bợ bao nhiêu họ càng có nhu cầu mãnh liệt về sự gắn bó đồng cảm bấy nhiêu. Sự gắn bó giữa một nhóm người không chỉ dừng lại ở những yếu tố tương đồng đơn thuần nữa mà đòi hỏi sâu hơn ở sự đồng cảm thật sự, chính cái nhóm đó mới cho cá nhân sự tự chủ cần thiết, cá nhân thuộc về nhóm một cách tự nguyện và thoải mái chứ không do áp lực sợ lạc lõng. Người Nhật luôn thuộc về một cộng đồng và muốn miêu tả con người chân thật nhất phải miêu tả con người ở giữa mọi người. Vì vậy sự cô đơn trong văn học Nhật Bản rất đặc biệt. Nỗi cô đơn đó không đến từ sự thờ ơ của xã hội với bản thân mà đó là bi kịch khi tự mình tách ra khỏi cộng đồng mà vốn dĩ mình thuộc về. (Người viết nhấn mạnh) Tính cố hữu của người Nhật là nỗi sợ cô đơn, Nhật Bản có lời dạy về đạo lý rằng: Hãy tìm một tập thể mà anh thuộc về họ. Người Nhật phủ nhận chủ nghĩa cá nhân nhưng cũng xa lạ với chủ nghĩa tập thể theo đúng nghĩa của nó. Họ sợ phải đối diện một mình với bản thân. Cuộc sống ở Nhật Bản loại trừ mọi sự tách biệt. Sự tách biệt được so với sự cô độc-và sự cô độc với người Nhật là một cái gì đó rất khủng khiếp. Các nhân vật của Soseki được miêu tả trong nhiều mối quan hệ, họ giao tiếp rất nhiều, có đầy đủ họ hàng, bạn bè, học trò nhưng họ vẫn cô đơn, giữa những người thân, họ không tìm được tiếng nói chung và cả sự thấu hiểu Cá nhân lạc lõng trong xã hội hiện đại hóa Con người lạc lõng là vấn đề thường thấy trong văn học buổi giao thời, giữa cái mới và cái cũ, giữa cái quen và cái lạ khiến con người rơi vào trạng thái hụt hẫng, sự cô đơn và không thể kết nối với thế giới xung quanh dẫn chúng ta đến trạng thái lạc lõng. 35
38 Cá nhân không theo kịp xã hội Văn minh phương Tây đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của xã hội Nhật Bản. Những tòa nhà xây bằng gạch theo kiến trúc phương Tây mọc lên khắp Tokyo. Những người có địa vị được phân biệt qua Âu phục, chính quyền ban hành quy định Âu phục phải được dùng trong mọi nghi lễ chính thức. Đàn ông cắt tóc ngắn trở thành trào lưu, để cổ súy cho phong trào này có hẳn một bài hát phổ thông: Zangiri atama o tataite mireba, bunmei kaika no oto gasuru (Gõ vào đầu để tóc ngắn dội ra tiếng văn minh khai hóa ) (Theo Giáo sư Vĩnh Sính trong Nhật Bản cận đại ). Làn sóng Âu hóa lan tràn đến mức bất cứ cái gì của phương Tây đều được xem là sang trọng, đúng mốt. Nhìn vào bối cảnh xã hội như vậy, hẳn những người luôn mang nặng tinh thần dân tộc như Soseki không khỏi thấy chướng tai gai mắt. Ông giáo (Tôi là con mèo) cho rằng xã hội này là tập hợp những kẻ điên, anh Kangetsu suốt ngày xách cơm theo mài viên thủy tinh, ông Meitei nghĩ rằng mình sinh ra để đi trêu chọc, đùa bỡn thiên hạ, bản tính độc ác của mụ vợ nhà Kaneda, ông Kaneda phi bình thường, đám học trò Lạc Vân quán với sự phá phách làm loạn có thể làm tiêu tan cả thế giới: Chỉ tính qua như vậy đã thấy khá đông bọn cùng loại, đã cảm thấy vững lòng một cách không ngờ rồi. Xã hội biết đâu chả là nơi tụ tập toàn những bọn điên với nhau. Chính cái gọi là xã hội, phải chăng là việc những thằng điên tụ tập lại, đâm chém, giằng xé nhau, chảnh chọe, chửi bới nhau, rồi tất cả gộp lại thành một tập thể, lúc tan rã, lúc thịnh vượng. Cứ thịnh vượng lên rồi lại tan rã đi như một tế bào, và cứ thế mà sống mà tồn tại? Trong cái xã hội đó, những kẻ ít nhiều biết lý lẽ, biết phải trái lại trở thành vướng, cho nên xã hội phải làm ra một cái gọi là nhà thương điên để nhốt họ vào đó. Nếu vậy thì chính những người bị nhốt trong nhà thương điên tối tăm kia mới là người bình thường, còn những bọn đang nhởn nhơ phá phách ngoài xã hội, trái lại mới đúng là những thằng điên.những người điên bị cô lập một mình thì mãi mãi bị coi là điên. Nhưng nếu họ tụ tập nhau lại thành tập thể, thành tổ chức, có lực lượng, biết đâu lại trở thành là hoàn toàn lành mạnh cũng nên. Thiếu gì những trường hợp thằng điên nặng nhưng có tiền, có quyền, dùng tiền và quyền sai kiến những thằng điên nhẹ, hung hăng tàn bạo nhưng lại được người đời cho là tài giỏi đó thôi? Thật chẳng còn hiểu cái gì ra cái gì nữa! [38, tr ] 36
39 Chúng ta nhận thấy một nội hàm ý nghĩa mới trong quan niệm của Soseki về Nhóm, nhóm luôn luôn đúng, còn cá nhân với tiếng nói riêng của mình thì luôn luôn sai, mãi mãi bị vùi dập. Và hệ quả của nó đưa đến ranh giới mong manh giữa kẻ điên và người tỉnh, cái khác nhau giữa họ không phải là bản chất mà là lực lượng: Bất bình cũng được. Có gì không vừa lòng, tức giận xong thì tâm trạng lại bình thường trở lại. Con người ta có nhiều loại, khuyên người khác hãy giống mình thì không thể giống được. Đũa mà không cầm giống người khác thì ăn cơm hơi khó. Nhưng bánh mỳ của mình, mình cứ bẻ tùy theo ý thích là tiện nhất. Đặt may bộ Kimono ở cửa hàng may khéo thì mặc vừa người, không may gặp phải cửa hàng dở thì ít nhiều phải gắng chịu mới được. Nhưng cuộc đời này rất kỳ diệu, bây giờ người ta mặc Âu phục nhiều vì nó hợp với phong cách người mặc. Nếu cha mẹ sinh ra mình khéo léo, phù hợp với thời thế thì hạnh phúc nhất. Nhưng nếu không may không hợp thời thế thì phải một là gắng chịu, hai là chịu cho đến khi hòa hợp được vào cuộc đời, ngoài ra không có cách nào khác cả. [38, tr ] Nhân vật của Soseki là những nhân vật còn nặng lòng với truyền thống đang loay hoay giữa guồng quay của hiện đại hóa. Nhân vật cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) là nhân vật rất đặc biệt của Soseki, trên nền chung về những cá nhân u uất lãnh đạm và trơ lì trước guồng quay của xã hội thì cậu ấm là một nhân vật năng động thực sự. Cậu ấm là đại diện cho tinh thần võ sĩ đạo: luôn nóng nảy, thẳng thắn, muốn làm gì phải làm cho bằng được, luôn ca ngợi những gia đình samurai (nhưng cái ngầm ý sâu xa của Soseki không chỉ dừng lại ở đó, samurai đại diện cho hệ thống ý thức lâu đời của Nhật Bản, đại diện cho quyền lãnh đạo của Nhật Bản, đại diện cho thái độ ứng xử trước làn sóng Âu hóa: vừa thỏa hiệp vừa đấu tranh). Những suy nghĩ của cậu ấm là những lời bình phẩm đanh thép về xã hội: Ngẫm ở trên đời có những kẻ thì trâng tráo như Hề Trống, bất cứ chỗ nào, chẳng ai cần đến, hắn cũng giơ cái mặt ra, bắng nha bắng nhắng, lại có những kẻ vênh váo, mặt vắt trên vai theo kiểu cái nước Nhật này mà không có tôi là không xong như Nhím, rồi có những kẻ như Áo Đỏ tự đóng vai thành gã lái buôn, chuyên kinh doanh những mặt hàng làm đỏm, nước hoa, son phấn và trai lơ. Cũng có những ông Ta-nu-ki luôn mồm tuyên bố ta đây chính là nền giáo dục biết đi, nền giáo dục khoác áo đuôi tôm. Biết bao nhiêu loại người, biết bao nhiêu bộ mặt, ai cũng thấy mình oai mình giỏi. Vậy mà chỉ có anh Bí Đỏ này, chưa thấy ai hiền như anh. Anh hiền như một con búp bê mà người ta giữ để làm tin, hiền đến nỗi có anh mà cũng như không có. [34, tr ] 37
40 Chàng họa sĩ giữa không khí thoát tục cũng trăn trở về cuộc đời có quá nhiều kẻ gây phiền nhiễu: Trên đời nhan nhản những kiểu người không ra gì. Cố chấp, độc địa, huênh hoang, khoác lác hay tủn mủn, keo kiệt. Đến nỗi người ta không hiểu được họ có mặt trên cõi đời này làm gì nữa. Nhưng số người như thế lại đông kinh khủng! Và họ cảm thấy vô cùng vinh dự khi hiện diện trong cõi phù sinh. [37, tr.178] Xã hội trong mắt những nhân vật của Soseki thật khó chấp nhận, nó đi ngược lại suy nghĩ và mong muốn của họ, những giá trị giả tạo, tầng lớp tư sản mới nổi mê đắm đồng tiền, thang giá trị mới đánh giá con người dựa trên năng lực cá nhân (không hề khách quan mà nhằm để phục vụ lợi ích của quốc gia). Con người cá nhân suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình, luôn chịu sự phê phán của người đời (như ông giáo Kushami, hay Cậu ấm, nàng Nami), không theo kịp xu hướng của xã hội hay nói chính xác hơn là họ đứng lại trước guồng quay hiện đại hóa quá nhanh, khi đứng lại, họ trở thành con người bên lề và xã hội quay lại chế nhạo họ Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội Soseki không chối bỏ quá trình hiện đại hóa nhưng không đồng tình trước một Nhật Bản với tay theo văn minh phương Tây. Ông đồng tình với sự khai hóa văn minh nảy sinh từ nhu cầu nội tại. Mâu thuẫn trong con người cá nhân theo quan điểm của Soseki là cá nhân tự cho mình là trung tâm, có thể sắp xếp cuộc sống của mình mà không biết rằng chính môi trường mới sắp xếp cuộc sống của họ. Vì vậy họ có tâm lý mâu thuẫn cho rằng mình không để ý đến người khác nói gì cứ làm theo ý mình nhưng lại u uất, dè chừng khi xã hội phản ứng xấu về họ. Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) qua những lời kể về chiến tích của mình, thoạt trông là một người không để ý gì đến việc người khác nhận xét gì về mình: Những khi lên lớp thỉng thoảng gặp những trục trặc nhưng tôi chỉ thấy buồn lúc đó. Sau đó ba mươi phút là tôi quên hết. Tôi là một kẻ dẫu có muốn lo xa cái gì cũng không được. Hầu như tôi không để ý gì đến những thất bại trong giờ giảng của tôi đã ảnh hưởng thế nào đối với học sinh, hay đã làm cho ông hiệu trưởng và ông hiệu phó có nhận xét thế nào về mình. [34, tr.56] nhưng thực chất anh ta rất để ý khi nhược điểm của mình bị phơi ra trước mặt mọi người: chi tiết bà Kiyô nói việc anh ta đái dầm ngày còn nhỏ trước mặt một người xa lạ như cháu bà Kiyô nhưng cậu ấm luôn suy nghĩ không biết anh ta nghĩ gì về mình. Nhân vật cậu ấm bề ngoài 38
41 tưởng như có những suy nghĩ mâu thuẫn, bị phê bình vì tự tiện bỏ trực trường đi tắm suối nước nóng anh ta chấp nhận vì thấy rằng như vậy đúng là vi phạm nội quy. Anh ta vốn bỏ ngoài tai lời răn đe và cả sự từ mặt của gia đình để thỏa mãn sở thích của mình nhưng lại bấm bụng từ bỏ sở thích ăn uống chỉ vì bị đồng nghiệp phê bình cười nhạo, cho rằng những tiệm mỳ, tiệm bánh bao là những nơi không nên lui tới, tổn hại đến địa vị cao quý của một giáo viên. Rõ ràng, một người nóng nảy, xem trời bằng vung như cậu ấm cũng kiêng nể tiếng nói của số đông. Khảo sát những tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki, chúng tôi nhận thấy ông ám ảnh bởi hình ảnh của những thám tử, đây có thể là hệ quả từ sự dè chừng dư luận xã hội, thám tử gây cảm giác không an toàn cho những nhân vật cá nhân của Soseki: Tôi cảm thấy tất cả bọn học sinh trong trường đều là thám tử, chuyên môn theo dõi chỉ riêng có một mình tôi. Tôi thấy não cả ruột. Tôi không phải loại người vì bị học sinh nói này nói nọ mà từ bỏ những ý định hay những việc mình đã định làm. Nhưng cứ nghĩ là sao mình lại đi đến cái nơi khốn khổ, khỉ ho cò gáy, toàn một lũ ếch ngồi đáy giếng này, thì tôi lại thấy ngán ngẩm trong lòng. [34, tr.65] Cậu ấm đã nói lên nỗi lòng u uất này khi mọi chuyện của mình đều được học sinh biết hết, rút kinh nghiệm từ lần đi ăn mì gặp học sinh, cậu ấm cẩn thận hơn khi ăn bánh bao gần xóm kỹ nữ dù chắc ăn rằng mình đã không gặp học sinh nhưng hôm sau lên lớp vẫn thấy dòng chữ Hai dĩa bánh bao 7 xu. Trong tác phẩm Tôi là con mèo, Soseki đã dành hẳn chủ đề con người cá nhân để các trí thức nhàn rỗi bình luận và hình ảnh thám tử được ông giải thích rõ ràng hơn: Những chữ như ung dung thanh thản chỉ còn xác chữ chứ không còn nghĩa nữa, về điểm này con người thời nay mang tính chất thám tử. Mang tính chất kẻ trộm nữa. Thám tử là kẻ chuyên rình mò sơ hở của người khác để được việc cho mình, cho nên nếu không nhận thức cao về cá nhân mình thì không thể làm được. Kẻ trộm thì cũng luôn luôn không thoát khỏi nỗi ám ảnh liệu có bị phát giác, bị bắt không, nên cũng phải có ý thức cao về cá nhân. Con người ngày nay, khi ngủ, khi thức đều vắt óc suy nghĩ xem cái gì là lợi, cái gì là thiệt cho bản thân mình, nên cũng phải nâng cao ý thức về cá nhân, không thua kém thám tử hay kẻ trộm được. Suốt ngày đêm 24 trên 24 tiếng đồng hồ, lúc nào cũng lấm la lấm lét, thì thà thì thụt cho đến tận lúc xuống mồ cũng không được một phút giây thanh thản. Đó chính là tâm trạng những con người thời nay. Đó là sự trù úm, nguyền rủa của văn minh đấy. Thật điên rồ! [38, tr.547] 39
42 Không ai khác mà chính ông giáo Kushami là người đúc kết ra kinh nghiệm này, bởi ông bị người khác theo sát một cách công khai. Những lời ông giáo nói, những hành động của ông ta, những ai đến nhà ông ta đều được hàng xóm tường thuật vanh vách. Đó là người hàng xe hám lợi, nghe lời nhà tư sản Kaneda để ý ông giáo Kushami-cái gai trong mắt của ông ta. Bị kẻ khác rình mò là nguyên nhân gây nên chứng u uất của ông giáo, bị rình mò khiến con người cảm thấy mất tự do. Nhưng người rình mò lại thỏa mãn được nhu cầu cá nhân của mình: thỏa mãn sự tò mò và nắm bắt người khác trong tầm tay. Soseki đặc biệt căm ghét cảnh sát ông cho rằng họ cũng là những kẻ tọc mạch người khác, hình ảnh thám tử là hình ảnh thường thấy trong những tiểu thuyết giai đoạn đầu của Soseki. Hình ảnh này cùng không gian tù túng cho thấy hình tượng con người cá nhân phần nhiều không tự tin vào bản thân mình, luôn lo sợ, u uất. Đối với Soseki bị soi mói về con người cá nhân là điều kinh khủng nhất. Dưới ngòi bút của ông, xã hội thời Minh Trị đã đào tạo nên những con người mang tính chất thám tử, chuyên rình mò người khác. Những nhân vật của Soseki rơi vào tình huống tiến thoái lưỡng nan, họ cần phải hòa nhập vào không khí xã hội đang văn minh hóa từng ngày, nhưng lại cảm thấy không thể thích ứng được bầu không khí đó. Đứng lại, hay cư xử khác đi, họ trở thành đối tượng bị chê bai, bình phẩm. Kết lại thành sự u uất, cảm giác bơ vơ. Nỗi niềm này được phát triển xuyên suốt trong nền văn học Nhật Bản hiện đại, trở thành tình cảnh thất lạc giữa cõi người Cái Tôi và sự cảnh tỉnh Sự cảnh tỉnh luôn xuất phát từ những cá nhân nặng lòng với xã hội, có cái nhìn sáng suốt giữa xã hội đang mù quáng chạy theo văn minh. Soseki muốn thông qua nhân vật của mình để xã hội nhìn lại kết quả. Tuy nhiên, lời cảnh tỉnh không phải là tiếng nói dõng dạc bắt nguồn từ tâm lý đặc thù của người Nhật: Luôn ưu tiên sự dè dặt hơn hùng biện [9, tr.47], lời cảnh tỉnh trong tác phẩm của Soseki rất kín đáo và thận trọng. Natsume Soseki là một trong những nhà văn đã có cái nhìn sâu sắc về sự phân chia thế hệ, là hệ quả của nền giáo dục trước và sau thời kỳ Minh Trị. Cá nhân-sản phẩm của nền giáo dục, được đào tạo để phục vụ lợi ích quốc gia hơn là lợi ích của chính bản thân họ, khi mâu thuẫn giữa nghĩa vụ và quyền lợi nảy sinh, họ-sản phẩm của nền giáo dục bậc cao tất yếu hoài nghi đối với xã hội Nhật Bản. Nhật Bản tiếp thu thành tựu vật chất của phương 40
43 Tây không muốn tiếp thu mặt tinh thần (mong muốn đánh bại phương Tây bằng tinh thần Nhật Bản). Nhưng chạy theo vật chất chóng mặt dẫn đến hậu quả những giá trị tinh thần bị xao nhãng. Thời kỳ này xảy ra những cuộc tranh luận văn hóa sâu sắc, cũng xuất phát từ mâu thuẫn giữa Nhật Bản và phương Tây cùng câu nói nổi tiếng: Tōyō no dōtoku, Seiyō no geijitsu (Linh hồn phương Đông, công nghệ phương Tây). Đến thời kì Minh Trị, giáo dục đã được mở rộng, Tống nho được Nhật Bản hóa, thống trị thời kì này, tạo nên xã hội bằng cấp, con người được phân biệt bằng các thành tích học tập của mình. Thời đại Minh Trị với quy tắc giác ngộ đã khiến những tri thức thế hệ này bị giằng xé giữa hiện đại hóa và truyền thống. Giá trị cá nhân trong thời đại Minh Trị thực chất chỉ được tôn trọng ở ý nghĩa rằng phát triển năng lực cá nhân là để phục vụ nhu cầu của đất nước, trung thành với hoàng đế vì vậy quan niệm về cá nhân là phải hy sinh cho nhà nước chứ không phải là giá trị thực sự của cá nhân là tự do, quyền lợi của cá nhân biến thành sự phục tùng quyền lợi cho người khác. Do đó cá nhân luôn tìm cách thỏa mãn nhu cầu của mình nhằm vượt qua sự áp chế của ràng buộc và trách nhiệm Cái Tôi-Tự do-ích kỉ Các nhân vật trong tác phẩm của Soseki luôn quay quắt so sánh con người của thời đại ngày nay và quá khứ, nếu truyền thống Nhật Bản không ai đòi hỏi cái cá nhân, thì với con người văn minh hiện nay lại khác, con người phải cố trương ra cái Tôi của mình cho thật mạnh mẽ, phải hơn người khác, ngay cả trong những mối quan hệ ruột thịt: thời đại ngày nay là thời đại lấy cái tôi làm trung tâm. [38, tr.561] thế nhưng Mỗi cá nhân mạnh lên ngang nhau nên cũng yếu đi ngang nhau. Khi người khác không thể xâm hại được mình thì đúng là mình đã mạnh lên. Nhưng chẳng bao giờ mình có thể đưa tay chạm đến người khác thì thật là con người đã yếu đi rõ ràng so với ngày xưa rồi. [38, tr ] Hệ quả này xuất phát từ xu hướng bắt chước phương Tây, nền văn minh phương Tây là nền văn minh đề cao cái Tôi và sự nổi bật của mỗi cá nhân trong cộng đồng, dấu hiệu dễ dàng nhận thấy nhất là sự vụn vỡ rạn nứt tình thân trong gia đình: cái Tôi -giống như một sự chịu đựng-được thả sức phát triển. Càng phát triển càng được tôn sùng, cho nên chỉ còn cách là tách xa nhau ra hơn. [38, tr.562] Những nhân vật của Soseki được ông dụng công xây dựng chân thực như một sản phẩm điển hình của xã hội Nhật Bản thời Minh Trị, vì vậy ông phơi bày toàn vẹn, không 41
44 có nhân vật chính diện và phản diện, chỉ có con đẻ của xã hội, khiến xã hội giật mình nhìn lại. Con người có nhu cầu chính đáng thể hiện tự do cá nhân, có thể phản ứng lại xã hội nhưng quá đề cao tự do có thể sinh ra con người ích kỉ, tạo thành chủ nghĩa cá nhân. Càng giao lưu hội nhập, trao đổi tích cực với phương Tây thì lối sống cô đơn, khép kín vị kỉ (chủ nghĩa cá nhân càng có chiều hướng gia tăng). Điều gì sẽ xảy đến nếu mọi người hành động theo quyền lợi vị kỉ của họ? Xét một khía cạnh nào đó những nhân vật chính của Soseki như ông giáo, cậu ấm cũng đáng chê trách, chỉ sống theo ý thích của mình, không để ý đến nhu cầu của xã hội. Nhu cầu cá nhân của con người được thể hiện hết sức đơn giản: nhu cầu ăn mặc, giải trí và phát ngôn, nhưng khi đọc những nhu cầu đó trong thế bủa vây của những ràng buộc xã hội, ta thấy đó là những vấn đề lớn, như những nhân vật khác trong tác phẩm, người đọc bị dẫn dắt vào thế soi xét những nhu cầu vốn dĩ rất bình thường đó.con người tự cô lập mình khi khăng khăng khẳng định cái Tôi, tự mình xa rời xã hội. Nhân vật Kushami (Tôi là con mèo) là giáo viên nhưng ông ta không xử sự mẫu mực, bao nhiêu tính xấu đem khoe hết ra ngoài (thường hát trong nhà xí như ta đây là Bình Tông Thịnh vang vang lên cả xóm đều nghe vẫn mặc kệ), ông giáo là người bỏ mặc ngoài tai người khác bàn tán về mình, sống theo kiểu của mình, không muốn thay đổi vì bất cứ lý do gì. Chính vì lối sống theo ý thích của mình, ông giáo trở thành người không thể hiểu nổi trong mắt bà vợ, là Địa tạng cản đường theo lời cô cháu gái, là cái gai bất trị trong mắt nhà tư sản Kaneda, cuối cùng ông luôn u uất bực dọc vì bị người khác tọc mạch, rình rập, quấy phá. Nhà triết học-bạn thân của ông giáo Kushami-nhân vật phát ngôn cho lý lẽ trong tác phẩm Tôi là con mèo đã đúc kết: Nếu cha mẹ sinh ra mình khéo léo, phù hợp với thời thế thì hạnh phúc nhất. Nhưng nếu không may không hợp thời thế thì phải một là gắng chịu, hai là chịu cho đến khi hòa hợp được vào cuộc đời, ngoài ra không có cách nào khác cả. [38, tr ] Để giải tỏa nỗi bất bình của mình, ông giáo không còn cách nào khác phải hòa hợp vào xã hội mà ông đang chán ngán kia, thiên hạ cầm đũa thế nào ông cũng phải cầm như vậy, chịu đựng và dần dần hòa hợp là cách con người tồn tại giữa xã hội: Thoải mái hay không thoải mái tùy thuộc vào cảm nhận của mình thôi. Nếu sống giữa lũ bọ mà không chịu nổi thì làm sao sống trong đám muỗi được? [37, tr.78] đây là lời nói bâng quơ của Nami nhưng chứa đầy triết lý. Chàng họa sĩ cũng đồng ý rằng chỉ có trong tranh mới là thế giới không có cả muỗi và ruồi (những lời bình phẩm của người đời), cuộc đời thực không có nơi chốn nào thanh thản. 42
45 Con người có nhu cầu chính đáng về cách sống cách sinh hoạt của mình nhưng thoải mái quá lập tức sẽ dẫn đến sự phản ứng của xã hội. Cậu ấm đã phải nhường bước khi nhận ra mình quá yếu thế, lối sống tự do của anh ta gây không ít phiền hà. Sự tự do quá mức thường dẫn đến hậu quả, trong đêm trực trường, cậu ấm đã tự ý đi thưởng thức thú vui tắm suối nước nóng. Anh ta biện minh rằng lần đầu tiên đến trường, anh ta cũng không thấy người trực trường đâu. Cậu ấm là người tự suy nghĩ theo lối riêng, dễ dãi với bản thân, điều đó ngay cả người tốt như Nhím cũng không đồng tình. Các nhân vật trong giai đoạn đầu sáng tác của Soseki có xu hướng muốn nắm bắt người khác nhưng không muốn người khác nắm bắt mình (Người viết nhấn mạnh.). Soseki xây dựng hình ảnh con mèo như một con mắt theo dõi nó có thể lẻn vào nơi con người không thể vào, nghe và chứng kiến những điều bí mật nhất: Tôi không có khả năng dùng ba tấc lưỡi để trao đổi, chuyện trò, nói tất cả suy nghĩ của mình với các thầy Meitei, Kangetsu, Kushami. Song bù lại, tôi lại hơn hẳn các thầy cái biệt tài lẻn trộm vào đâu đó, mà chỉ có loài mèo mới có được. Có thể làm thành thạo cái mà người khác không làm được là một sự khoái trá. [38, tr.147] Khả năng có thể lẻn vào bất cứ nơi đâu, nghe được bất cứ câu chuyện gì là sự tự hào của con mèo, là dấu hiệu của một cá nhân muốn nổi bật trong xã hội. Có thể hiểu con mèo chính là con mắt là khát vọng nhìn vào con người theo những cách khác nhau, đầy đủ khía cạnh nhất. Nhân vật Cậu ấm hai lần chuyển chỗ trọ, có hai người chủ nhà nhưng anh ta lại rất thích bà chủ nhà thứ hai, anh ta say sưa nghe bà ta kể lại tất cả tình hình ở thị trấn từ trước khi anh ta đến, đặc biệt mối quan hệ rắc rối giữa Bí Đỏ-Madonna-Áo Đỏ thậm chí không hề khó chịu khi nghe giọng địa phương của bà ta (đệm từ nhể cuối câu), trong khi anh ta ghét thậm tệ khi học trò mình nói như thế. Nhân vật cậu ấm thu hút người đọc ở sự khăng khăng lập trường của mình trước hoàn cảnh nhưng chúng tôi cho rằng điều này hoàn toàn ngược lại. Cậu ấm dù mạnh mẽ hơn ông giáo Kushami nhưng cũng vật lộn với dư luận xã hội, phải kiềm chế lại bản thân mình khi đến dạy tại thị trấn bé nhỏ này, trong khi với gia đình anh ta không hề thỏa hiệp. Cậu ấm và Nhím quyết tâm đánh Áo Đỏ và Nịnh Hót là vì giọt nước tràn ly cuối cùng, Cậu ấm và Nhím đã mang tiếng xấu là những tên du đãng trên báo chí, trong khi họ là những giáo viên, điều này đã khiến họ mất danh dự trầm trọng, đối với người Nhật mất danh dự là điều nghiêm trọng nhất. Họ đánh Áo Đỏ không phải chỉ vì những việc xấu hắn đã làm, tội lỗi nặng nhất của hắn là bôi nhọ danh dự, lòng tự trọng của 43
46 họ. Chàng họa sĩ đến sơn thôn vắng vẻ để tĩnh tâm nhưng lại rất quan tâm đến câu chuyện của cô gái Nami, anh ta lắng nghe câu chuyện từ anh thợ cắt tóc, đến chú tiểu, sư trụ trì, hỏi han cô hầu phòng và tự mình kiểm chứng thông qua hành động của cô gái. Con người cá nhân dưới ngòi bút của Soseki có ý thức soi xét bản thân mình và gương soi là một trong những công cụ soi rọi bản thân mà Soseki sử dụng, muốn khẳng định được lập trường bản thân trước xã hội, phải hiểu được phần tối trong tâm hồn mình: Nhưng khi chính mình ngán ngẩm mình, khi bản thân đã tàn héo thì không có thuốc nào hiệu nghiệm bằng soi gương. Xấu, tốt rõ ràng hết. Nhất định sẽ tỉnh ngộ ra rằng cái mặt thế này mà bấy lâu nay vẫn dám vênh vênh sống làm người cho đến hôm nay ư? Khi biết được như vậy là lúc đáng quý nhất trong đời người. Không có gì đáng kính nể bằng tự mình thừa nhận sự ngu xuẩn của mình. Trước sự ngu xuẩn tự giác này, tất cả những kẻ vĩ nhân đều phải cúi đầu mà tạ lỗi. mặc dù người ấy ngang nhiên cười giễu bản thân mình, nhưng người khác nhìn vào thì thấy, sự ngang nhiên đó chính là cúi đầu tạ lỗi. [38, tr.399] Biểu tượng gương soi là biểu tượng truyền thống trong văn hóa và văn học Nhật Bản, xuyên suốt hành trình lịch sử, gương soi mang sứ mệnh ca ngợi vẻ đẹp và soi rọi tâm hồn con người. Soseki đã sử dụng tấm gương như một sự phản chiếu và đối diện để con người tỉnh ngộ, xấu tốt được thể hiện rõ ràng, và giây phút thật nhất của con người là giây phút đối diện cùng gương soi: Vậy là trong lúc miễn cưỡng đối diện với chiếc gương, tôi đã một mình đóng vai đến mấy con quái vật. Thoạt tiên thì tôi cũng phải công nhận khuôn mặt trong gương của mình hơi thiếu thẩm mỹ, nhưng xem xét kĩ chiếc gương từ cấu tạo cho đến màu sắc, những chỗ bong lớp bạc để ánh sáng lọt qua thì thấy bản thân chiếc gương này mới là một vật thể cực kì xấu xí. Khi bị kẻ tiểu nhân xúc xiểm thì ta chẳng có gì phải đau khổ vì lời xúc xiểm ấy, nhưng nếu cứ phải sống trước mặt kẻ tiểu nhân thì chắc là ai cũng cảm thấy khó chịu. [37, tr.86] Chàng họa sĩ đã có lối so sánh độc đáo, cho chiếc gương là kẻ xúc xiểm, là kẻ tiểu nhân giữa xã hội này, con người lúc nào cũng phải đối diện với những kẻ tiểu nhân như thế, và sự méo mó về nhân cách đôi khi không xuất phát từ bản thân con người mà xuất phát từ miệng lưỡi của những kẻ tiểu nhân. 44
47 Thực trạng xã hội và sự cảnh báo Sosei đã nhận định về xã hội Nhật Bản bằng lời thở than của ông giáo Kushami: Cho nên bây giờ cuộc đời đã khác xưa, đã xuất hiện những hiện tượng mới kiểu như do uy danh của bề trên nên cái đó không thể được. Xã hội bây giờ là xã hội mà tất cả những thứ ngày xưa tưởng chừng như không thể nghĩ tới đã trở thành đạo lý. Thế thái nhân tình đổi thay một cách kỳ lạ. [38, tr.560] Nhật Bản là nước tiên tiến nhất trong các nước Đông Á sau khi tiếp xúc với văn minh phương Tây nhưng nước Nhật không thoát khỏi tình trạng Đông Á bệnh phu, mặt tiêu cực trong quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản nhiều hơn bất cứ một quốc gia Đông Á nào. Fukuzawa Yukichi trong Khuyến học đã phân tích tỉ mỉ những tiêu cực của xã hội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị và cho rằng nó là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng lạc hậu, trì trệ, hao mòn sinh lực dân tộc, làm cho dân Nhật, văn hóa truyền thống Nhật Bản trở thành bệnh tật. Bệnh của dânnhật là càng lúc càng trở nên hèn nhược và theo Fukuzawa Yukichi đó là do bao năm nhân dân sống dưới chế độ chính trị chuyên chế. Con người không dám nói ra những điều nghĩ trong lòng. Lâu dần đã hình thành cách sống gian dối và ngụy tạo. Không thành thật trở thành thói quen hằng ngày. Làm sai không dám nhận, luôn đổ lỗi cho người khác. Không hiếm người dân trung thực nhưng mỗi khi quan hệ với chính quyền thì nhân cách trở nên dối trá. Soseki đã xây dựng những hình ảnh người Nhật mang bệnh, từ những con người vô danh tiểu tốt như anh phu xe hám tiền, ti tiện, đến bọn học sinh được đào tạo đều trở thành nô lệ cho đồng tiền chỉ biết luồn cúi tất cả tạo thành một xã hội đáng thất vọng và những cá nhân như ông giáo Kushami, cậu ấm, chàng họa sĩ đều buồn nản và ngán ngẩm trước hiện trạng xã hội như thế, những con người như thế, họ chán nản cả chính bản thân mình. Giới trí thức trong Tôi là con mèo hiện lên đầy đủ trong những câu chuyện ở phòng sách. Đó là những câu chuyện nhàm chán và những trò chơi chữ tỏ vẻ liên tiếp diễn ra. Người này khởi xướng những khái niệm kì quặc nhại từ sách vở Đông Tây người kia cũng cố gắng phụ họa theo cho xứng tầm, dường như nhiệm vụ của những nhà trí thức Nhật Bản thời kì đó là ngâm vịnh, xướng họa, nghiên cứu những thứ chẳng giống ai. Đó là những bài thơ nhại đời của ông giáo, món ăn Tochimenbo của Meitei (thật ra Tochimenbo là bút danh của một nhà thơ Haiku theo trường phái Nhật Bản-tên thật là Ando Renzaburo), những câu chuyện linh tinh của anh Kanghetsu về cô gái có ý định tự tử thầm gọi tên mình, Meitei 45
48 hưởng ứng bằng câu chuyện suýt đi treo cổ, khiến ông giáo hiếu thắng kể chuyện hoãn binh không muốn đi xem hát với vợ Những câu chuyện ấy chỉ khiến con mèo trở nên chán ngán: Tóm lại thì ông chủ cũng như Kangetsu và Meitei, đều là những kẻ ăn không ngồi rồi, nhàn rỗi. Họ như những dây leo, nhờ gió thổi mà tung lên, sống nhởn nhơ, vẻ cao siêu sang trọng, nhưng thực ra đầy lòng tham, thói xấu, tầm thường. Thói ganh đua, lòng hiếu thắng vẫn thỉnh thoảng hé ra trong những chuyện đùa tếu hàng ngày của họ. Chỉ tiến thêm một bước nữa thì họ cũng một gáo một giuộc, cùng hội cùng thuyền với những kẻ phàm phu, tục tử mà hàng ngày học vẫn chửi bới, xỉ vả thôi. Trong con mắt của mèo nhìn họ thật đáng thương hại. Có điều là hành động, ngôn ngữ của họ không rập khuôn, nhàm chán hay tỏ vẻ ta đây như những kẻ hiểu biết nửa vời, gây cho người khác phải khó chịu, cho nên về điểm này cũng còn hơi chấp nhận được. [38, tr.95-96] Những nhân vật của Soseki chê bai, bình phẩm những con người tầm thường, thậm chí xấu xa trong xã hội nhưng nếu tiến thêm một bước nữa họ cũng sẽ trở thành những con người mà họ bình phẩm. Sợi dây xuyên suốt trong cách miêu tả con người cá nhân của Soseki là đặt nhân vật giữa những ranh giới như quan niệm nghệ thuật của chàng họa sĩ: Sự huyền ảo chỉ xuất hiện ở lằn ranh mập mờ giữa hai thế giới [37, tr.56] Nàng Nami là biểu hiện cho ranh giới giữa tự do và vô cảm, nàng sống theo ý thích, mặc kệ sự đàm tiếu nhưng chân dung nàng như một cô gái bàng quan trước cuộc sống bên ngoài. Nami thoạt trông là nhân vật nữ được nhiều ưu ái nhất trong tác phẩm của Soseki nhưng nàng được Soseki phát hiện trong mục đích kiếm tìm điển hình vô cảm, vốn là bệnh của người Nhật. Điều đó lý giải vì sao, chàng họa sĩ đã bắt được nét thần của bức tranh khi nàng Nami nhìn bóng người chồng cũ khuất xa cùng đoàn tàu. Gương mặt bần thần và tiếc nuối đó chính là cảm xúc thật của con người, bức chân dung nàng Nami là sự tìm kiếm cảm xúc đích thực của Soseki, không phải là sự lạnh lùng vô cảm của con người trước cuộc đời. Điên và tỉnh, lánh đục và lãnh cảm, trốn chạy và thoát tục những ranh giới này rất dễ nhập nhằng nếu con người không tỉnh táo. Sự nhập nhằng và sa đà tất yếu dẫn đến bi kịch, khi con người bỗng nhiên nhận ra mình đã trở thành kẻ mà mình vốn dĩ ghét cay ghét đắng. Con mèo (Tôi là con mèo) là ví dụ điển hình cho sự nhập nhằng giữa hai thế giới, nó là mèo nhưng lại suy nghĩ và hành động như người muốn trở thành người, mặc dù từ lúc sinh ra đời nó không ưa gì con người và cho rằng con 46
49 người là động vật xấu xa nhất. Kết cục của nó là chết như một con người say xỉn để quên đi nỗi đau nhân thế. Con mèo quan sát thái độ thản nhiên của ông giáo trước sự nghịch ngợm, bừa bãi vô độ của các cô con gái với thái độ ngán ngẩm: Cho dù lúc này mà ba cô con gái bỏ nhà đi theo người yêu, thì ông vẫn cứ ngồi ăn cơm, húp canh thản nhiên nhưng không cho mà xem. Thật là con người vô tích sự.thế nhưng, nếu nhìn những người được cho là có tích sự trên đời hiện nay thì hình như chỉ toàn những kẻ chẳng biết gì ngoài việc dối trá, lừa đảo, nẫng tay trên, ra oai dọa người khác, níu chân hay dìm người khác Đây không phải là những kẻ được việc mà là những bọn lưu manh. Tôi cũng là một con mèo Nhật Bản nên ít nhiều cũng có lòng yêu mến nước Nhật. Mỗi lần nhìn thấy những bọn được việc này, tôi chỉ muốn cho chúng mấy cái tát. Cái bọn người này mà tăng thêm thằng nào thì đất nước suy yếu đi từng ấy. Trường học mà có những học sinh loại này thì đó là những nổi sỉ nhục của trường học. Một đất nước có nhân dân như thế này thì đó là nỗi sỉ nhục của đất nước. Là một nỗi sỉ nhục như vậy mà cứ nhâng nhâng, nhâng nhâng, lăn lóc ở trên đời này thì không thể chấp nhận được. Xem ra, người Nhật không khí khái bằng mèo. Thật xấu hổ. So với bọn lưu manh ăn hại này thì phải nói rằng ông chủ còn cao quý hơn nhiều. Cao quý ở chỗ vô tác dụng, ở chỗ không kiêu căng, lếu láo. [38, tr ] Những nhân vật đứng bên lề xã hội của Soseki là những nhân vật giữ cho mình không trở thành một phần của xã hội đáng chán, họ chấp nhận đứng bên lề mặc kệ sự chế giễu của người đời, điều này tưởng chừng như mâu thuẫn với tâm lý sợ sự bất mãn và không đồng thuận của nhóm. Nhưng trong tâm trí của họ, họ không làm gì nghĩa là không đụng chạm đến lợi ích của nhóm, không gây phương hại đến lợi ích của xã hội, quốc gia. Ông giáo Kushami là bước đầu tiên của một Tiên sinh trong Nỗi lòng (Kokoro) sau này, có bằng cấp nhưng không làm việc, không giao du, không đụng chạm đến xã hội, không biết rằng mình gây đau khổ cho những người xung quanh. Họ tự tách mình ra và cho rằng họ không đi ngược lại lợi ích của bất kì tổ chức hay nhóm nào đã là điều đúng đắn nhất họ có thể làm. Cách sống của nàng Nami trong Gối đầu lên cỏ cho chúng ta cảm giác về sự vô cảm nhưng đồng thời nó cũng mang hướng tích cực: sống lạc quan không để ý đến sự bình phẩm của người đời. 47
50 Gần cuối tác phẩm Tôi là con mèo, sự xuất hiện của cô cháu gái Yuki của ông giáo với câu chuyện về pho tượng Địa Tạng gần như là một bức tranh biếm họa đặc sắc về xã hội thời kì đó, chính xác hơn ông giáo chính là Địa tạng đứng cản đường giữa đường phố đông đúc, ai cũng muốn đuổi ông đi. Những người thử sức đuổi Địa tạng đi đều mang nhiều ám chỉ, từ người đàn ông khôn ngoan nhất thành phố dụ dỗ Địa tạng bằng bánh ngọt, rượu và tiền đến anh thổi tù và hù dọa cảnh sát sẽ đến nhưng không ăn thua bèn đóng giả nhà giàu đến cùng cái tẩu rất to hút khói xung quanh bức tượng để mong cuốn nó vào khói sau đó lại thuê bọn phu xe, bọn lưu manh đến gây sự ầm ĩ để Địa tạng không chịu nổi nhưng rốt cuộc bức tượng cũng không nhúc nhích. Cuối cùng một thằng ngốc tên là Bakatate mặt tỉnh bơ đến trước bức tượng và nói: Này ông Địa tạng người thành phố này bảo ông chuyển đi thì ông chuyển đi cho Địa tạng liền bảo ngay Thế à? Nếu thế thì nói ngay từ đầu có được không? và thế là địa tạng ấy dời đi. [38, tr ] Đây là câu chuyện của một nhà diễn thuyết, ý nghĩa câu chuyện như sau: Tôi nói thế này có thể không phải phép, nhưng theo tôi, phụ nữ hay có thói quen xấu là không đi đường thẳng, chính diện mà cứ đi theo đường vòng. Hơn nữa, cái này không chỉ riêng phụ nữ, đàn ông thời Minh Trị này, do tiếp thu những tập quán xấu của văn minh nên ít nhiều đã trở nên nữ tính, Họ thường làm những cái cố gắng không cần thiết và lầm tưởng đó là cái chính, cái cần làm của người đàn ông. [38, tr.466] Ông giáo Kushami không thức thời (ngang bướng, không coi trọng đồng tiền, chống lại các nhà tư sản ), lập tức ông trở thành hình mẫu chính xác của ông Địa tạng cản đường. Dù đứng bên lề xã hội, ông vẫn là cái gai chướng mắt, ông giáo Kushami là nhân vật khởi đầu cho những nhân vật thu mình lại, không đụng chạm đến ai trong những tác phẩm giai đoạn sau của Soseki (như Tiên sinh trong Nỗi lòng (Kokoro)). Mặt tiêu cực trong vấn đề con người cá nhân của Natsume Soseki còn thể hiện ở lối bắt chước rập khuôn phương Tây, đây là đề tài xuyên suốt trong những tác phẩm của ông. Con mèo (Tôi là con mèo) luôn có đề tài để phỉ báng con người, nó bắt đầu kế hoạch vận động như con người và chê bai không tiếc những con người đã từng một thời ham chuộng sống cuộc sống vô sự dĩ quý nhân, dạo gần đây lại rộ lên phong trào vận động, uống sữa, tắm nước lạnh, xuống biển, mùa hè thì phải lên núi uống sương : Các vị cũng coi tất cả những cái vớ vẩn ấy chỉ là một thứ dịch bệnh từ phương Tây lan sang Thần quốc này, cùng loại với các bệnh dịch hạch, lao phổi hay suy nhược thần kinh gì đó mà thôi. [38, tr.294] 48
51 Làn sóng văn minh phương Tây thổi tràn lên Nhật Bản và người dân xem việc tiếp thu càng nhiều càng tốt (không kể tiêu cực hay tích cực) là biểu hiện cho mức độ văn minh của mình. Vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki còn ở sự phân biệt giữa con người văn minh và không văn minh bằng. Ngoài bối cảnh phòng khách, câu chuyện về con mèo và ông giáo Hắt Hơi (Tôi là con mèo) còn diễn ra ở một không gian khác, đó là nhà tắm công cộng. Tại đây, con mèo lại có dịp bày tỏ sự bất bình của mình về trang phục và sự khỏa thân (ngầm phê phán lối bắt chước phương Tây giống như khỉ): Những tín đồ của đạo khỏa thân nó là như vậy. Nếu ai thấy khỏa thân là hay ho thì cứ việc để cho con gái mình khỏa thân đi, rồi cả mình nữa, cứ việc cởi hết quần áo mà đi dạo trong công viên Ueno cũng được. Không được ư? Không phải là không được đâu, mà đó là vì người phương tây không làm như thế nên cũng không làm chứ gì? Thực ra các người chả đã mặc cái bộ lễ phục hết sức không hợp lý ấy mà vênh vang đi vào khách sạn Đế quốc đó sao? Nếu hỏi vì sao thì chẳng có duyên do gì cả, chẳng qua chỉ vì người phương Tây mặc thế nên mình cũng mặc thôi. Vì người phương tây họ mạnh nên dù có vô lý, có dở hơi cũng phải bắt chước bằng được mới thỏa mãn. hãy để cho kẻ lớn cuốn đi, để cho kẻ mạnh bẻ đi, để cho kẻ nặng đè lên tất cả những cái hãy để cho hết đi ấy chả phải là đã chẳng mang lại một cái quái gì đó sao?. [38, tr.317] Hệ lụy của xã hội văn minh và tiên tiến là con người chạy theo đồng tiền, chỉ đồng tiền và địa vị mới cho con người đẳng cấp mới tạo ra sự bất bình đẳng và phân biệt. Đồng tiền trong tác phẩm của Soseki có tác dụng to lớn trong việc nâng vị thế của con người, Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) đến nhà trọ dù còn rất nhiều phòng thoáng mát nhưng chủ nhà chỉ cho anh ta thuê phòng nóng bức. Nhưng khi anh ta cho 5 yên tiền quà thì thái độ của chủ nhà đã khác hẳn, cúi rạp người xuống chào, cho anh ta ở phòng thoáng mát nhất. Con mèo (Tôi là con mèo) biết được đám học trò ở Lạc Vân Quán thường xuyên quấy rối ông giáo là phương sách quyết định để nhà doanh nghiệp trừng trị sự láo lếu của ông giáo vì dám coi thường ông ta đã than thở như chính nó bị hãm hại: Trời ơi, lại âm mưu rồi. Thì ra thế lực của các nhà doanh nghiệp thật ghê gớm, làm phát điên những người tựa tro than như ông chủ. Vì đau buồn mà cái đầu của ông bị hói. Rồi cái đầu ấy cũng lại chịu số phận như đầu ông Aischylos thôi. Tất cả đều do sức mạnh 49
52 của các nhà doanh nghiệp mà ra! Không hiểu sức mạnh nào làm cho trái đất xoay quanh trục của nó, nhưng quả thật, đồng tiền đã làm xoay chuyển thế giới này. [38, tr ] Một người luôn dửng dưng, tựa như tro than không cần biết đến cảm giác của người khác như ông giáo lại trở nên u uất, thu mình vò võ trong phòng sách, trăn trở, đau đáu. Một người không nể nang gì tầng lớp tư sản mê đắm đồng tiền nhưng lại bị chính thứ mình coi khinh chi phối. Đó là sức mạnh lớn lao của đồng tiền mà ông giáo Kushami vốn ngang bướng cũng không chịu đựng được Thực trạng giáo dục thời kì Minh Trị và sự phản ứng Trở lại với Khuyến học của Fukuzawa Yukichi, ông đã chỉ rõ bệnh của tập quán nguy hiểm qua quan niệm sai lầm đã tồn tại bao đời về mục tiêu, ý nghĩa của hoạt động học tập, mọi người đều quan niệm học để làm quan chứ không ai học để làm dân, quyền lực là tuyệt đối vì vậy ai cũng muốn leo lên làm quan. Fukuzawa khẳng định rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, và sự bất bình đẳng nảy sinh chỉ vì sự khác biệt về trình độ học vấn. Ông cho rằng nền học thuật Nhật Bản phải chú trọng thực học (Jitsugaku) tức không tách rời thực tế, dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần thực dụng, tính độc lập và ông cho rằng tinh thần độc lập ở mỗi người dân là điều căn bản tối thiểu cho một nước độc lập và tiến bộ. Theo Fukuzawa, do ảnh hưởng của nền giáo dục Khổng giáo quá chú trọng hư học (Kyogaku) nên phương Đông chậm tiến trong thời cận đại. Chính lối giáo dục này đã tạo ra một xã hội chuộng bằng cấp, người có địa vị cao nghiễm nhiên có tất cả quyền hành và quyền lợi. Trong Cậu ấm ngây thơ, Lửng (hiệu trưởng) và Áo đỏ (hiệu phó) được miễn trực đêm vì là người có chức quyền, Cậu ấm cảm thấy vô cùng bất công, anh ta cho rằng họ đã dạy ít, lương cao giờ còn miễn trực đêm. Nhưng đó là điều ai cũng chấp nhận như một chân lý nên một mình sự bất bình của Cậu ấm cũng chẳng giải quyết được điều gì. Nhím đọc cho Cậu ấm một câu đúc kết Might is right (chân lý thuộc về kẻ mạnh) [34, tr.66]. Độc giả ấn tượng Cậu ấm ngây thơ bởi cách tính toán tiền lương chi li cho từng vị trí giáo viên, quyền hành mà họ được hưởng, và chính những điều kiện đó chi phối và quyết định tính cách của họ. Ông hiệu trưởng với biệt danh là Lửng nắm quyền hành, cách nói chuyện lươn lẹo, khôn ngoan, lúc nào cũng muốn điều khiển người khác theo ý của mình. Cách đào tạo học sinh trong Cậu ấm ngây thơ phơi bày một nền giáo dục đáng báo động, học trò trêu chọc và hỗn láo với thầy giáo nhưng nhà trường không dám trách phạt 50
53 học sinh vi phạm nội quy. Những học trò Lạc Vân Quán (Tôi là con mèo) để người khác giật dây, quấy phá nhà hàng xóm sát cạnh trường bằng những trò du đãng và lì lợm không khác gì những kẻ vô học, lạ một điều là những thầy giáo của Lạc Vân Quán vẫn để những chuyện đáng xấu hổ đó diễn ra dù đã được nạn nhân nhắc nhở. Những ung nhọt trong nền giáo dục đều tập trung trong tác phẩm Cậu ấm ngây thơ, Áo Đỏ đường đường là hiệu phó nhưng lại là một người tha hóa về nhân cách, một kẻ hai mặt, xúi bẩy học trò hãm hại thầy giáo, theo đuổi vợ của đồng nghiệp, sống đạo đức giả nhưng lại cấm đoán người khác thỏa mãn nhu cầu của mình: Giáo viên trung học vốn dĩ thuộc tầng lớp có địa vị cao trong xã hội. Vì thế cho nên không chỉ đi tìm những thú vui vật chất tầm thường. Nếu cứ lao vào những chỗ đó thì phẩm cách con người cũng bị tiêm nhiễm những cái xấu, trở nên tầm thường. Nhưng có điều, chúng ta là những con người. Là con người mà về cái nơi thôn quê hẻo lánh này, nếu không có một sở thích nào thì kể cũng khó. Phải chăng ta nên đi câu cá, tìm đọc những sách văn học, hay làm thơ nghĩa là đi tìm một sự thú vui về tinh thần cao thượng nào đó. [34, tr ] Soseki đã xây dựng những giáo viên nhấn mạnh ở khía cạnh đời thường, ông không xoáy sâu vào chuyên môn hay hình ảnh khuôn mẫu của họ ở trường, nhưng dụng công miêu tả kĩ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là mặt xấu của họ và bằng cách đó chân dung của những học sinh (sản phẩm đào tạo của những giáo viên như thế) hiện lên qua những hành động vô học mà chẳng cần gia công miêu tả nhiều: Chi tiết ăn mừng nước Nhật thắng trận trong Cậu ấm ngây thơ thực chất là chi tiết mỉa mai, trong không khí tự hào khi quốc gia chiến thắng thì học sinh hai trường (những con người được đào tạo dưới chính sách giáo dục của nhà nước đó) đang ẩu đả, nó như một chiến trường thu nhỏ, mô phỏng lại cuộc chiến tranh mà nước Nhật vừa thắng trận. Học trò trong tác phẩm của Soseki là những người không xứng đáng ngồi trên ghế nhà trường. Từ Tôi là con mèo đến Cậu ấm ngây thơ những học sinh hiện lên như những tên du đãng. Hiện trạng của những cá nhân trong xã hội Nhật Bản thể hiện từ sự cô đơn của con người giữa nhóm xã hội đến những cá nhân đáng chê trách về lối sống và nhân cách chính là bản chất của con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki. Những nhân vật cá nhân ông xây dựng nên chính là sự trình bày hậu quả của văn minh, chứ không phải là tiếng nói đòi quyền tự do như những tác phẩm viết về vấn đề con người cá nhân khác. 51
54 Con người cá nhân trong sáng tác giai đoạn đầu của Soseki là con người loay hoay giữa truyền thống và hiện đại, giữa mong muốn của bản thân và yêu cầu của xã hội, giữa ham muốn tự do và khao khát sự phụ thuộc, giữa phương Đông và phương Tây để tìm kiếm bản chất của chính mình. Một trong những thuộc tính quan trọng của vấn đề con người cá nhân là sự tự do, với người phương Đông, tự do được mang lại từ cảm giác cô đơn, đó là đường dây xuyên suốt của một mối quan hệ tất yếu, cô đơn mới tự chiêm nghiệm và phản tỉnh, và tự do phụ thuộc rất nhiều vào sự tự phản tỉnh. Vì vậy khi xã hội càng náo loạn và bộn bề thì con người càng rơi vào cô đơn, đến tận cùng con người không còn tha thiết giữa đúng và sai, không còn nhu cầu giải quyết những vướng mắc, họ tìm đến một thế giới khác. Với người Nhật, càng đi xa chúng nhân và bụi trần, con người càng về gần với bản chất của mình, họ thực hiện quá trình chiêm nghiệm, phản tỉnh và đạt đến trạng thái tự giải thoát. Vì vậy Soseki đã tìm đến con đường giải thoát, giai đoạn đầu, con đường giải thoát của các nhân vật hay chính Soseki là nghệ thuật và tư tưởng triết học. Đây cũng là giai đoạn tuyên ngôn về nghệ thuật của ông Cái Tôi và sự bình tâm Cái Tôi tìm đến sự bình tâm trong tâm hồn là nét độc đáo trong tâm lý con người cá nhân trong văn học Nhật Bản. Trước thời cuộc nhiều biến động, con người luôn tìm cách quay về thế giới bên trong, gỡ rối từ thế giới nội tâm sâu sắc. Giải quyết mọi âu sầu ảo não từ trong tâm trí của mình là hướng đi của Soseki trước những khó khăn từ hiện thực bên ngoài: Khi cảm thấy khó sống quá thì người ta thích tìm đến nơi nào dễ chịu. Và khi nhận ra rằng chẳng có nơi nào dễ sống thì người ta làm thơ, vẽ tranh. [37, tr.11] Nhân vật của Soseki rất chú ý đến sự thanh thản của tâm hồn, họ không muốn bận tâm đến cuộc sống xô bồ; họ muốn tìm đến những nơi chốn yên tĩnh, nhàn nhã, những thú vui đời thường; họ trốn tránh thế sự, không quan tâm đến tình hình thực tế. Tác phẩm Gối đầu lên cỏ trong bản tiếng Anh có tựa đề là The three concerned world (Thế giới ba góc) chúng tôi cho rằng tựa đề này đã nắm bắt được chủ ý của Soseki, ông đã xây dựng một thế giới bị vạt mất một góc (của những nhận thức bình thường), thế giới của những cá nhân trong Gối đầu lên cỏ là một thế giới an toàn, thế giới của nghệ thuật truyền thống và sự tĩnh tâm của Thiền. Những triết lý về cuộc sống và nghệ thuật trong tác phẩm của Natsume Soseki thực chất là sự tìm kiếm giá trị thẩm mĩ đích thực và sự bình tâm trong tâm hồn. 52
55 Soseki viết về nghệ thuật với thái độ trân trọng, gìn giữ và cả sự lo sợ nếu cá nhân phát triển quá mạnh thì nghệ thuật sẽ khó tồn tại. Ngay từ tác phẩm Tôi là con mèo, Soseki đã e ngại sự phát triển quá mức của cá tính kéo theo đó là sự phát triển tự do cá nhân của con người, nếu xem nghệ thuật là sự nhất trí giữa cái tôi của nhà sáng tác và cái tôi của người thưởng thức thì sự phát triển tự do cá nhân quá mức sẽ đẩy hai cái tôi đó xa nhau, nghệ thuật không còn tồn tại nữa. Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân nhận định rằng Soseki tìm đến tiểu thuyết để thoát khỏi tâm trạng u uất. Với Gối đầu lên cỏ (Kushamakura), Soseki muốn tìm về cái đẹp của một thế giới vượt hẳn chúng nhân, với Cậu ấm ngây thơ (Botchan) và Gió mùa thu (Nowaki), ông đề cao lý tưởng công bằng xã hội. Trong lời giới thiệu cuốn Cậm ấm ngây thơ, dịch giả Bùi Thị Loan đã cung cấp một tư liệu quý giá về cuộc đời của Soseki, vốn đã suy nhược thần kinh, khi dạy học tại đại học Tokyo, những lý luận văn học Anh của ông bị sinh viên phản đối kịch liệt, bệnh của ông trầm trọng hơn. Theo lời khuyên của Takahama Kyoshi-chủ bút tạp chí Chim tử quy, Soseki sáng tác tiểu thuyết để thư giãn tinh thần. Truyện Tôi là con mèo ra đời được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt và nhờ đó bệnh tình của ông thuyên giảm. Soseki quyết định theo con đường viết văn chuyên nghiệp. Qua câu chuyện này chúng ta có thể thấy dư luận có vai trò rất quan trọng đối với ông. Soseki viết như để giải tỏa những ẩn ức. Những nhân vật của Soseki trong vòng kiềm tỏa của xã hội, bế tắc không tìm được lối ra đã tìm đến những giải pháp xoa dịu tâm hồn, những nhân vật ấy là sự thể nghiệm của chính Soseki. Chính điều này là cơ sở cho nhân vật con người cá nhân của Soseki mang hai bản chất: tiếng nói riêng giữa xã hội nhóm và tiếng nói cá tính trong nghệ thuật (Người viết nhấn mạnh): Cái sầu vạn cổ của thi nhân có lẽ chỉ là một chút phiền muộn trong cốc rượu của người đời. Như vậy so với người bình thường thì thi nhân phải chịu đựng nhiều hơn, vì thần kinh của họ nhạy cảm hơn gấp mấy lần. Họ có những thú vui thanh cao vượt lên trên dục vọng tầm thường, nhưng cũng có những nỗi buồn đau vô hạn. Vậy thì phải là người suy tưởng mới có thể trở thành thi nhân. [37, tr.17] Tìm về triết học, nghệ thuật Trong công trình Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa bên cạnh các vấn đề của nước Việt Nam phong kiến thời Tự Đức, nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi cũng nói 53
56 đến vấn đề đã nảy sinh trong mối quan hệ phức tạp giữa các nước Đông Á. Trước hết, tác giả xác định Việt Nam đã có cùng một vấn đề đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây và giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo. Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn Dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo Tây khí (đạo lý phương Đông và thực hành phương Tây) Trung thể Tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương Tây). Khẩu hiệu này chứng tỏ nhu cầu có tính thực tế nhất định và do đó có sự cố gắng thích nghi với môi trường và công cuộc hiện đại hóa đất nước. Nhân vật cá nhân trong tác phẩm của Natsume Soseki khi gặp trở ngại trước mâu thuẫn giữa nhu cầu nội tại và tác động bên ngoài đều tìm về nghệ thuật và triết học, đó là chỗ dựa cho con người trong sáng tác của Soseki. Nghệ thuật và triết học là phương cách giác ngộ trong thời Heian, thời kì này Phật giáo thoát khỏi chủ nghĩa khổ hạnh thời Nara, dành sự quan tâm lớn đến xã hội và nghệ thuật. Con người đạt đến trạng thái cân bằng nhờ nghệ thuật và chính yếu tố này góp phần đưa nền văn học, nghệ thuật thời kì Heian lên đỉnh cao rực rỡ. Tư tưởng này xuyên suốt tiến trình lịch sử của văn học Nhật Bản. Đến Soseki, nghệ thuật trở thành một trong những con đường vượt thoát của tâm hồn con người. Điều này có vẻ trái ngược với Mori Ogai cùng trường phái Dư Dụ, cùng là trí thức Tây học, cùng viết về sự mâu thuẫn trong xã hội hiện đại hóa, Mori Ogai có nhận xét khác về nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản trong tác phẩm Đang trùng tu: Watanabe ngả lưng tựa ghế xô-pha, đảo mắt nhìn quanh xa-lông. Ở một đôi chỗ trên tường có treo vài cuốn tranh Nhật. Chúng được xếp đặt một cách tùy tiện, không ăn khớp với nhau chút nào: bên cạnh bức có chim oanh đậu trên cành mơ là tranh vẽ sự tích chàng ngư phủ Urashima và tranh chim ưng. Ông thấy bức nào khổ cũng hẹp mà không đủ dài, lại treo từ chỗ thật cao trên tường nên tưởng chừng chúng bị xén mất khúc dưới. Trên cánh của lối dẫn vào phòng khách lại có lộng khung một bản kinh văn do vị giáo chủ nào đó viết bằng lối chữ cổ. Nhật Bản thật không phải là một quốc gia có óc nghệ thuật! [69] Mori Ogai không âu sầu ảo não như Soseki, mà ngược lại ông cho rằng Nhật Bản cần có một cuộc đại trùng tu, để theo kịp làn sóng hiện đại hóa, chính vì vậy cái nhìn của ông về nghệ thuật truyền thống Nhật Bản không phải là cái nhìn tìm kiếm sự an ủi và chỗ dựa tinh thần như những nhân vật của Soseki: 54
57 Trong thế giới vật chất này từ xưa đã lấp lánh thứ ánh sáng rực rỡ của cái đẹp. Chỉ vì có cái bóng mờ trong mắt làm ta không nhìn rõ, vì những suy tư ngổn ngang trong lòng mà không nhận rõ chân tướng sự vật. Vì không dứt được những phiền muộn của cõi đời, vì bị bó buộc bởi những chuyện được mất, vinh nhục và bị những tham vọng ám ảnh nên người ta cứ sống mà không chú ý gì đến giá trị thẩm mỹ, trước khi biết được vẻ đẹp của đoàn tàu hỏa trong tranh vẽ của Turner, hay vẻ đẹp của linh hồn trong tranh Okyo. [37, tr.52] Nhân vật ông giáo Kushami (Tôi là con mèo) được châm biếm ở thái độ nửa vời với nghệ thuật, thử vẽ tranh, làm thơ, dịch thuật, kịch nghệ cái gì cũng không làm đến nơi đến chốn. Nhưng thực chất đó là sự loay hoay tìm kiếm niềm an ủi, cái gì cũng muốn thử để mong thoát khỏi hiện tại.tác phẩm Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) mang tính tuyên ngôn nghệ thuật rõ rệt và sâu sắc của Soseki trong mọi lĩnh vực từ hội họa, thơ ca đến trà đạo Ông luôn đặt chúng trong thế đối sánh giữa phương Đông và phương Tây, thậm chí rất đề cao nét đặc sắc của Nhật Bản. Nhân vật Nami là một thách thức đối với đôi mắt của độc giả, nhân vật này mở đầu cho phương pháp sáng tác sử dụng Nghệ thuật thị giác : miêu tả nhân vật như bước ra từ một bức tranh, vừa thật vừa như không thật. Chiêm ngưỡng Nami và sau này là nàng Mineko trong Shanshiro chúng ta nhận thấy nghệ thuật tiểu thuyết đặc biệt của Soseki. Lời đối thoại của hai nhân vật chính trong Shanshiro là lối ẩn ý đầy sáng tạo của Soseki: Shanshiro nói rằng Mineko chính là một bức tranh và Mineko so sánh Shanshiro như một bài thơ. Soseki đã cố tình sắp xếp những hình ảnh liên quan đến Mineko trong cuốn tiểu thuyết để có thể tập hợp lại thành một bức tranh. Đọc Gối đầu lên cỏ chúng ta nhận thấy sự trình diễn lần lượt của hình ảnh, của những phác họa cho bức chân dung nàng Nami. Nàng Nami trong cái nhìn của Soseki được bao phủ bởi làn sương ảo ảnh của quá khứ và hiện tại, giữa phương Đông và phương Tây: Phải chăng cô vốn thuộc về bóng tối, và đây là cái khoảnh khắc mà cái ảo ảnh tạm thời đang trở về với cõi sâu thẳm khởi nguyên, nên mới có thể thong dong cất bước trên lằn ranh giữa hai thế giới hư và thực. [37, tr.114] Chàng họa sĩ phải mất rất nhiều thời gian và đạt được độ thấu hiểu mới có thể chiêm ngưỡng chân dung của nàng. Trong trí tưởng tượng của chàng họa sĩ, cô dâu Nami ngày về nhà chồng rất rõ ràng về quần áo, kiểu tóc, dáng ngồi trên lưng ngựa nhưng duy nhất chỉ khuôn mặt cô dâu là mờ ảo Câu chuyện tình yêu của nàng gợi nhắc đến nàng Nagara, một 55
58 hình mẫu trong nền văn hóa truyền thống lâu đời của Nhật Bản, thế nhưng nàng lại xuất hiện trong giấc mơ của chàng họa sĩ dưới một hình bóng khác: một cái chết đơn lẻ, cái chết của con người cá nhân qua tấm thân trôi theo dòng nước của một nàng Ophelia trong tranh vẽ của phương Tây. Nàng Nami luôn mong muốn chàng họa sĩ vẽ hình ảnh của mình nhưng ở nàng Nami thiếu đi chất liệu của cuộc sống, nàng như thi liệu của một bức tranh, như không phải là con người thực trong thực tế. Điều này giải thích vì sao Nami yêu cầu chàng họa sĩ vẽ chân dung mình (đó là bức họa miêu tả gương mặt cô thanh thản trôi theo dòng nước) nhưng chàng họa sĩ không thể vẽ được vì ở Nami thiếu cảm xúc, đó là cảm xúc Aware, là nỗi buồn trong nhân thế mà một người chịu nhiều đau khổ như Nami đáng lẽ phải có. Chính sự kìm nén của bản thân trước dư luận xã hội, không thể bày tỏ cùng ai đã khiến khuôn mặt cô gái lúc nào cũng mờ ảo, không biết phải diễn tả như thế nào. Nami là hình mẫu cho nạn nhân của sự kìm nén, của vòng vây xã hội đối với con người cá nhân và chàng họa sĩ là cứu cánh cho cô, là người khơi thông dòng chảy uất ức của Nami tuôn trào. Sự giãi bày và đồng cảm đã khiến Nami tìm lại cảm xúc bị đánh mất, chàng họa sĩ đã bắt được nét thần cho bức tranh của mình. Chàng họa sĩ trong hành trình về thế giới vượt hẳn chúng nhân luôn mải miết đi tìm sự khác biệt giữa nghệ thuật của phương Đông và phương Tây, đặc biệt rất đề cao nghệ thuật của Nhật Bản. Lời nhận xét có phần chủ quan nhưng thể hiện một cá nhân luôn hoài niệm về quá khứ: Không chỉ tấm thảm này mà mọi thứ đồ dùng của Trung Hoa đều có vẻ đơn điệu và kém hấp dẫn. Phải thừa nhận rằng những vật dụng như thế chỉ có thể là sản phẩm của một dân tộc kiên nhẫn nhưng kém thông minh. Chúng chỉ có giá trị ở chỗ làm người xem sửng sốt và kinh ngạc. Đồ mỹ nghệ Nhật Bản thì thể hiện thái độ hết sức cẩn trọng, giống như sự cảnh giác của một kẻ chuyên móc túi. Sản phẩm của phương Tây thì hoành tráng và tinh xảo nhưng không thể nào thoát được vẻ trần tục. [37, tr.132] Chàng họa sĩ cho rằng chỉ có họa sĩ phương Đông vẽ được chiều sâu của cảm xúc, họa sĩ phương Tây chủ yếu miêu tả hiện tượng, không chú ý đến chiều sâu của tâm hồn, cũng như nhà thơ phương Tây chưa đạt đến độ tinh khiết của thơ ca, còn thơ ca của phương Đông có khả năng thoát ra thế giới ngột ngạt này, đạt đến độ siêu thoát. Không phải ngẫu nhiên mà Soseki để chàng họa sĩ ám ảnh hình ảnh của nàng Nami qua hình ảnh nàng Nagara của truyền thống Nhật Bản và nàng Ophelia trôi theo dòng nước của phương Tây, sự căng 56
59 thẳng giữa hai hình ảnh này là sự căng thẳng giữa hai bờ Đông-Tây trong tâm trí chàng họa sĩ, chàng họa sĩ không thể vẽ gương mặt thanh thản của nàng Ophelia vào bức vẽ của nàng Nami bởi vẻ mặt ấy không phù hợp với cô gái Nhật Bản đầy nỗi niềm, chỉ gương mặt nhuốm màu aware mới có thể lột tả tâm hồn cô gái. Chàng họa sĩ đào sâu trong hành trình Đông-Tây để sáng tác bức tranh ấp ủ của mình. Soseki đã vén bức màn mờ ảo, che khuất đôi mắt của con người để nhìn thấy nghệ thuật đích thực giữa cuộc đời: Chúng ta bị thế giới phù hoa này thúc giục đấu tranh không ngừng nghỉ, nên phiền não chẳng bao giờ chấm dứt. Khi chúng ta sống trong cõi trời đất chia biệt Đông Tây với tấm thân bị mắc vào mạng lưới của những chuyện thiệt hơn, được mất, thì tình yêu chân chính chỉ là điều không tưởng. Nhờ có thi nhân và họa sĩ mà chúng ta được thưởng thức những tinh hoa cốt tủy của thế giới hai mặt này, được biết sự thanh khiết tận cùng của nó Niềm vui của nghệ sĩ không phải do gắn mình với một cái gì. Họ đã đồng hóa chính vào sự vật. Khi đã hòa mình vào trong sự vật rồi thì dù có đi đến tận cùng thế giới mông lung này cũng không thể tìm ra chỗ để ràng buộc cái tôi. Họ thong dong giũ sạch bụi trần, khoác áo tả tơi mà thưởng thức gió ngàn vô tận. Không phải vì dám hợm mình, tỏ ra khinh thường những thị dân giữa cõi đời ô trọc mà tôi vô cớ nghĩ ra một khung cảnh như thế. Chẳng qua vì tôi muốn nói lên những điều tốt đẹp để kêu gọi chúng sinh có nhân duyên. [37, tr.101] Truyền thống của văn học Nhật Bản là hòa mình vào bản thân sự vật như giây phút hòa mình của thi sĩ Basho vào một cành hoa, cái Tôi vượt hẳn chúng nhân không còn điều gì ràng buộc, nghĩa là không còn đau khổ không còn âu sầu ảo não vì những lẽ thiệt hơn của cuộc đời. Chỉ Con người cá nhân nghệ sĩ mới có thể làm được điều đó nhưng cuộc hành trình đó không hề đơn giản. Với Gối đầu lên cỏ độc giả thấy hiện lên trước mắt một thế giới nghệ thuật, một thế giới muốn vượt hẳn chúng nhân nhưng chàng họa sĩ dù rất mê đắm khung cảnh thoát tục vẫn canh cánh nỗi buồn nhân thế. Với chàng, cái đích để đạt được bức tranh thần không nằm ngoài cảm xúc Aware của cuộc đời. Nghệ thuật không thể rời xa đời thực mà phải gắn liền chúng sinh, sống theo cái đẹp của nghệ thuật giữa cuộc đời thực tế cho con người cái nhìn thấu đáo, phát hiện bản nguyên: Tôi tự giải thoát mình khỏi trách nhiệm của một thành viên trong xã hội. Đồng thời cũng tự giải thoát mình khỏi những vướng mắc đời thường để trở thành một họa sĩ thuần túy, để chỉ hoạt động trong thế giới của cái đẹp. 57
60 Nghĩa là tôi không bị buộc vào bất cứ cái gì, bất kể điều đó là núi, là nước hay là những người sống quanh tôi. Vì vậy, trước mắt tôi thì hành trạng của cô nàng Nami cứ thể hiện tự nhiên như nó vốn là. [37, tr.201] Nhân vật Nami là một nhân vật đặc biệt, không chỉ vì nàng là người phụ nữ trẻ được ưu ái nhất trong văn nghiệp của Soseki, Nami mang một sứ mệnh của cách nhìn về con người cá nhân đặc biệt của xã hội. Chàng họa sĩ nếu nhìn nàng bằng cách đánh giá của người bình thường hẳn cũng sẽ thấy nàng dị thường, quá khích. Nhưng khi nhìn bằng một cảm quan khác, cảm quan của người nghệ sĩ, họa sĩ thấy nàng Nami là người bình thường, sống theo cách của mình, tự nhiên như nhiên. Con người cá nhân khi trở thành nghệ sĩ, khi nhìn sự vật bằng đôi mắt mỹ hóa và sự bình an của tâm hồn thì những nỗi niềm từ cuộc sống khổ đau không còn làm con người âu sầu ảo não nữa: Dẫu chúng ta sống qua bao ngày tháng mòn mỏi cho đến lúc bạc đầu, nhưng khi hồi tưởng lại cuộc đời mình, khi lần lượt điểm lại những gì mình trải nghiệm, nếu quên đi bản thân mình thì chúng ta vẫn tìm thấy một niềm vui lan tỏa nhẹ nhàng, như một cơ thể chết rồi vẫn còn hắt ra những tia sáng le lói. Ai không tìm được điều đó thì có thể nói là anh ta đã sống một cuộc đời không lý tưởng. [37, tr.102] Soseki-một cá nhân luôn đau đáu trước thời cuộc, đã tìm thấy niềm an ủi trong nghệ thuật, khi quên đi những ràng buộc, hòa vào thế giới của nghệ thuật, con người đã có được tự do. Theo Soseki, con người nghệ sĩ là con người chìm đắm, đồng nhất, bị cuốn hút vào đối tượng. Vì thế mọi điều thâu nhận vào lăng kính của người nghệ sĩ đều trở nên tinh khiết, bản nguyên, thấu thị. Tư tưởng triết học mà Soseki muốn nhân vật của mình hướng tới không nằm ngoài vòng ranh giới của Thiền. Muốn thoát khỏi trạng thái âu sầu ảo não thì phải thuận theo tự nhiên, xử sự như truyền thống xuôi theo dòng nước, đau khổ chẳng qua vì quá đề cao lý trí, quên mất cảm tính truyền thống của Nhật Bản (nói cá nhân nhưng cũng nhằm nhắc nhở một đất nước đang quá lý trí, tìm mọi cách để đạt được mục tiêu: phú quốc cường binh). Soseki đã phân biệt rõ ràng tư tưởng của phương Tây và Nhật Bản: Văn minh phương Tây có thể là tích cực, là tiến thủ đấy, nhưng nó là nền văn minh do con người, suốt cả cuộc đời không bao giờ thỏa mãn, tạo ra.văn hóa Nhật Bản không đi tìm sự thỏa mãn ở chỗ làm thay đổi tình trạng bên ngoài bản thân mình. Cái khác nhau rất lớn với văn minh phương Tây là ở chỗ nó phát triển theo một sự giả định về cơ bản, không nên bắt buộc hoàn cảnh khách quan phải thay đổi. Nếu quan hệ cha con không tốt thì người Nhật không cải thiện mối quan hệ này để tìm sự thanh thản như người phương Tây, mà cứ 58
61 để cho mối quan hệ đó tồn tại như bản thân nó vốn có, rồi đi tìm phương pháp tạo ra sự thanh thản trong mối quan hệ đó Nghĩa là họ nuôi dưỡng một tâm hồn không qua núi cũng vẫn hài lòng [38, tr ] Chính tư tưởng triết học này cho những nhân vật của Soseki một tay vịn để đứng vững trước tình huống biến động của xã hội nhưng song song đó cũng tạo ra sự u uất không cách gì thoát ra được. Những nhân vật của Soseki không ngại sự cô đơn vì một mặt nào đó họ rất cần đến nó, cần cho sự sáng tạo. Họ không ngần ngại đối diện, va chạm và đi vào tận cùng nỗi cô đơn để sáng tác. Chàng họa sĩ muốn tìm đến nơi thoát tục với cảnh đẹp và nên thơ nhưng chàng không thể sáng tác vì thiếu tình người trong nhân thế, chỉ khi bắt gặp thoáng nét cảm xúc trên gương mặt vốn dĩ lạnh lùng của Nami, chàng họa sĩ mới nắm được nét thần cho bức tranh của mình: Vì tôi cũng là con người tồn tại trong thế giới nên tất nhiên là dẫu mong muốn thế nào đi nữa thì chuyện thoát ly tình cảm đời thường cũng không thể kéo dài mãi được. [37, tr.21] Bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki là sự nhận ra sai lầm của mình ngay khi tìm được một con đường mới đế thoát khỏi hoàn cảnh u uất hiện tại, khiến con người luôn có cảm giác luẩn quẩn bế tắc, không cách nào thoát ra được. Trong tác phẩm Shanshiro, tác phẩm mở đầu cho giai đoạn viết văn chuyên nghiệp của Soseki, chỗ dựa của con người cá nhân chính là quá khứ, là những kỷ niệm êm đẹp của tuổi thơ. Không phải Soseki không tìm được niềm an ủi trong nghệ thuật, trong thế giới vượt hẳn chúng nhân nhưng dường như đối với ông vẫn là chưa đủ, vì thực chất nỗi đau của con người cá nhân trước thời cuộc thường là sự hoài niệm về quá khứ. Shanshiro -nhân vật chính của câu chuyện sau khi tốt nghiệp đã rời quê hương Kyushu một hòn đảo phía cực Nam của Nhật Bản còn nặng lối sống truyền thống để đến Tokyo tìm kiếm cơ hội. Nhưng trong suốt thời gian sống nơi đô thị sầm uất Shanshiro bị giằng xé giữa những kỷ niệm quá khứ của mình (lối sống nông thôn ăn sâu vào tận gốc rễ) với cuộc sống mới của mình giữa Tokyo hiện đại. Shanshiro háo hức lao vào cuộc sống hiện đại. Anh mong muốn hòa nhập vào nó nhưng cũng rất sợ đánh mất sự yên bình của tuổi thơ. Trong hoàn cảnh không thể thay đổi của xã hội, thì cá nhân con người càng phải cố gắng tu dưỡng, rèn luyện: Nếu đưa ra một định nghĩa về nghệ thuật trong hoàn cảnh chật vật của cuộc sống đời thường, thì có thể nói nghệ thuật là cái tiềm ẩn trong tâm hồn của những người có giáo dục, biết cải tà quy chính, biết bỏ cong tìm ngay, biết giúp đỡ kẻ yếu 59
62 và chế ngự kẻ mạnh; là sự kết tinh thần cống hiến hết mình, như một tấm phản chiếu ánh sáng mặt trời rạng rỡ. [37, tr ] Chính quan điểm này chi phối cách xây dựng nhân vật đề cao lý tưởng công bằng trong một số tác phẩm của Soseki Đề cao sự công bằng xã hội Nhân vật mong muốn một thế giới tốt đẹp trong tâm tưởng là một thất bại trong việc tìm đường của Soseki, không giống như những nhân vật trong văn học truyền thống là sự chiêm nghiệm, đó là lối suy nghĩ chủ quan, muốn thế giới trong tầm tay của mình, điều này đã kết lại thành nỗi u uất cô đặc trong giai đoạn sáng tác sau này của ông. Trong Người đi đường (Koujin) nhân vật H đã phân tích sự phê phán hiện thực của Ichiro và cho rằng suy nghĩ của Ichiro đã vượt xa thực tại xã hội: Nếu thử tưởng tượng về thế giới mà anh của cậu tự tạo ra cho mình theo dự đoán của bản thân, thì đó hẳn là một thế giới tiến bộ hơn nhiều so với xã hội bây giờ. Như vậy về mặt thẩm mỹ, tri thức hay luân lý anh ấy đều phải chịu đựng một thế giới trì trệ hơn mình nghĩ. [60] Chính tâm trí của con người luôn muốn cải tạo lại xã hội đã khiến họ rơi vào bế tắc, tự mình gây ra âu sầu ảo não. Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ), dù tuổi thơ và những năm tháng thiếu niên ở Tokyo trôi qua chẳng mấy êm đềm nhưng Tokyo vẫn là thiên đường so với vùng quê hẻo lánh, cậu tự hào về người Edo, chê bai không tiếc lời người nông thôn vì trong tâm trí của cậu nông thôn là một thế giới quá trì trệ, lạc hậu so với thành thị. Cậu ấm ngây thơ đề cao lý tưởng công bằng, hầu hết người Nhật đều rất thích thú khi đọc tác phẩm này, nó mang đậm tinh thần của võ sĩ Samurai: không để ai được phép bắt nạt mình. Cậu ấm là nhân vật có thể đại diện cho những người thực thi công lý trong xã hội, nhằm trừng trị những kẻ xấu đầy quyền hành mà không ai dám đụng đến. Cậu ấm sống theo tôn chỉ công bằng, luôn nhìn mọi thứ theo thế giới riêng của mình. Hành động của cậu ấm không phải là sự nổi loạn, chống lại xã hội, anh ta đã nhượng bộ dư luận xã hội. Sự trừng trị Áo Đỏ và Hề Trống là sự cảnh cáo mang tính cá nhân, được thực hiện bài bản, có chứng cứ rõ ràng và những kẻ xấu đó không dám tố cáo cậu ấm và Nhím. Nhân vật yêu cầu sự công bằng, muốn giúp đỡ người khác chúng ta có thể nhìn thấy ở con mèo (Tôi là con mèo), cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ), chàng họa sĩ (Gối đầu lên cỏ). Họ là kiểu nhân vật của những cuộc hành trình; là người khẳng định đạo lý truyền thống theo cách này hay cách khác; là người kêu gọi bảo tồn giá trị truyền thống trước làn sóng ồ ạt của phương Tây, biến nó 60
63 thành sức mạnh tự vệ. Phản ứng của con người cá nhân trước sự đe dọa của giá trị truyền thống là phản ứng tất yếu ở các nước Đông Á trước làn sóng phương Tây. Nhà văn Hồ Biểu Chánh được xem là nhà văn đạo lý vì ông đã xây dựng nhân vật hành đạo nhiều hơn bất cứ nhà văn cùng thời nào vì ông luôn đau đáu trước sự suy vi nhanh chóng của những đạo lí truyền thống ở miền Nam Việt Nam trước những ảnh hưởng của lối sống phương Tây. Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) đạt được sự công bằng nhưng đó là sự công bằng không được thừa nhận, chỉ trong phút chốc. Cũng như chàng họa sĩ dù được nhìn ngắm khung cảnh nên thơ và hòa mình trong đó nhưng thực tế vẫn không tránh khỏi những nhức nhối của đời sống hiện thực. Từ sự đề cao lí tưởng công bằng xã hội, Soseki luôn chú trọng nêu những biểu hiện của bất bình đẳng, trong xã hội hiện đại hóa khi con người quá đề cao cá tính của mình thì bất bình đẳng càng nặng nề: Giống như thiên nhiên kỵ chân không, con người rất ghét bình đẳng [38, tr.320] Trong những tác phẩm giai đoạn đầu, ông đặt nó vào chủ đề trang phục phân biệt con người mà chúng tôi gọi là Triết lý quần áo. Con mèo khi theo ông chủ của mình đến nhà tắm công cộng đã đúc kết về sự bất bình đẳng trong thế giới loài người, dù khỏa thân như nhau con người vẫn không đạt được sự bình đẳng, tìm cách hơn thua đối phương. Ngài hiệu phó trong Cậu ấm ngây thơ cũng cố gắng phân biệt vị trí của mình với các giáo viên khác bằng chiếc áo đỏ hắn mặc quanh năm.quần áo là biểu hiện cho vị trí của con người, nó không còn đơn thuần xuất phát từ nhu cầu sinh học nữa mà đã trở thành công cụ phân biệt giữa người và người: Từ ngày xửa ngày xưa thiên nhiên đã tạo ra con người bình đẳng như nhau, nên khi sinh ra ai cũng trần truồng như nhau. Nếu bản tính của con người là an phận với sự bình đẳng này thì lớn lên vẫn mãi mãi không mặc quần áo gì cả. Nhưng trong số những người không mặc quần áo đó bỗng có một người nói rằng Nếu ai cũng như thế này thì việc học hành chả có ý nghĩa gì cả. Mình cố gắng vất vả cũng chả nghìn thấy thành quả gì. Phải làm thế nào để mình là mình, ai nhìn vào cũng biết đó là mình thì mới được! [38, tr.318] Lịch sử ra đời của trang phục rất đơn giản: xuất phát từ nhu cầu muốn khẳng định mình, phân biệt mình với người khác. Triết lý về trang phục trong tác phẩm của Soseki chưa khái quát đến cấp độ biểu tượng dù nó mang sức gợi rất lớn, nó chỉ dừng lại là chi tiết đắt giá cho tác phẩm. Cái khác nhau giữa mặc quần áo và không mặc quần áo mang những tầng nghĩa sâu xa hơn nữa. Không phải chỉ là văn minh và mông muội, không phải chỉ là bình 61
64 đẳng và bất bình đẳng mà tận cùng là bi kịch của con người khi đẩy cá tính của mình lên quá cao. Cá tính hóa giúp chúng ta không lẫn vào đám đông, giúp chúng ta khẳng định cái Tôi của mình giữa tập thể. Nhưng sự khẳng định đó khi được thỏa mãn nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn nữa, chúng ta đòi hỏi mình là duy nhất, tất yếu sẽ sa đà và mất kiểm soát: Cái gọi là đề cao cái tôi của người đời bây giờ chính là sự phân chia quá rạch ròi ranh giới quyền lợi giữa ta với kẻ khác. Thế rồi, cùng với sự phát triển của xã hội, cái tôi này ngày càng sắc bén, đi đến chỗ không còn một cử chỉ, một hành động nào còn có thể tự nhiên như nhiên nữa. [38, tr.547] Qua khảo sát nguyên nhân về lối suy nghĩ chủ quan của những nhân vật mong muốn một thế giới tốt đẹp theo ý mình, chúng tôi nhận thấy điều này đưa đến một hệ lụy đó là sự phân biệt những tầng lớp người trong tác phẩm của Soseki. Ông giáo Kushami coi thường tầng lớp tư sản, tầng lớp lao động hám lợi Đây cũng là một trong những nguyên nhân các nhà văn thuộc trường phái khác nhận xét ông có thái độ Người trên nhìn kẻ dưới. Người đọc dễ dàng nhận ra ông có thái độ không vừa lòng tầng lớp tư sản mới nổi mê đắm đồng tiền, những người dân lao động không nhận ra chân giá trị, bị xúi giục bởi đồng tiền, kể cả những học sinh được giáo dục nhằm mục đích trở thành nhân tài giúp nước cũng bị đồng tiền chi phối: Vốn dĩ ông chủ là người, nếu mà nói đến giáo sư, tiến sĩ gì đó thì ông ta nể, chứ rất lạ là mức độ kính trọng của ông đối với các nhà doanh nghiệp lại rất thấp. Ông ta tin rằng cái chức giáo viên trung học của ông oai hơn doanh nhân. Dẫu không tin như vậy thì với bản chất không thức thời, ông cũng đoạn tuyệt mọi sự nhờ vả cũng như ân sủng của những doanh nhân, những kẻ lắm tiền, coi đó là sự mờ ám. Đã không có ý định nhờ vả như vậy thì dẫu có là người giàu có hay thế lực đến đâu cũng chẳng liên quan gì đến ông cả. Vì vậy, ngoài xã hội học giả ra, ông hoàn toàn xa lạ với mọi lĩnh vực. Đặc biệt đối với doanh nhân, ông không hề biết ai, làm gì, ở đâu. Mà có biết thì ông cũng không hề mảy may tôn kính hay nể sợ. [38, tr ] Soseki có một sự ưu ái đặc biệt dành cho tầng lớp Samurai, không hẳn vì ông xuất thân từ tầng lớp này nhưng nó vốn là đặc trưng của tính cách Nhật Bản, không bị hòa lẫn. Thời kì Edo là thời kì tầng lớp Samurai phát triển cực thịnh, chính quyền Mạc phủ Tokugawa chọn Tân nho làm quốc giáo, nếu ở giai đoạn trước, tầng lớp võ sĩ là những người thất học thì ở thời kì này, Samurai cũng là Nho sĩ (chủ trương của Yamaga Soko để 62
65 xây dựng tinh thần võ sĩ đạo trở thành tinh thần của Nhật Bản). Samurai đã trở thành hình mẫu văn hóa, giáo dục và trí tuệ trong xã hội Nhật Bản. Trong tác phẩm của Soseki luôn có sự đối lập giữa phẩm chất Samurai và bản chất tư sản. Ông giáo Kushami cùng những người bạn trí thức của ông rất ghét bà Mũi (đại diện cho tầng lớp tư sản) và những người bạn theo nghiệp kinh doanh. Cậu ấm ghét ông chủ buôn đồ cổ, hết lời ca ngợi người chủ nhà là Samurai. Tinh thần của cậu ấm và Nhím là tinh thần Samurai chính hiệu, Cậu ấm có lẽ là nhân vật mang đậm tính Samurai nhất, chi tiết sự rạn nứt trong gia đình với người anh đam mê kinh doanh và hai anh em không bao giờ gặp nhau nữa là một ví dụ điển hình. Mối dây liên kết phần lớn câu chuyện Tôi là con mèo là sự mập mờ trong mối quan hệ giữa anh Kangetsu và con gái nhà doanh nghiệp Kaneda, từ câu chuyện ban đầu của anh về cô gái gọi tên anh khi mê sảng đã rất mơ hồ đến chuyện Bà Mũi (mẹ của cô gái-vợ nhà doanh nghiệp) với cái mũi vĩ đại và cách ăn nói trịch thượng, bà ta đến nhà ông giáo để tìm hiểu về anh Kangetsu, thói hợm hĩnh và giả dối của đại diện tầng lớp tư sản chạy theo đồng tiền này bị cánh trí thức phê bình không thương tiếc. Bà ta đang xẵng giọng với Meitei và ông giáo nhưng khi nghe Meitei khoác lác bừa rằng bác ông ta là một Nam tước, bà ta liền đổi giọng thân mật, cảm ơn vì đã quấy quả ngài Nam tước nhiều về chuyện hôn nhân của con gái. Đó là những thứ giả tạo, chẳng có ngài Nam tước, chẳng có chuyện nhờ vả, chẳng qua đó chỉ là chương trình lập trình sẵn tạo những mối quan hệ của giới làm ăn. Đến cuối tác phẩm, mối duyên của chàng Kanghetsu và cô tiểu thư đỏng đảnh của nhà tư sản Kaneda vẫn không thành, giống như ông giáo nhận xét: một nhân tài trong ngành học thuật không thể hợp với một con tem biết đi. Hay trong quan niệm của Soseki, trí thức không thể kết hợp với tư sản. Những giải pháp xoa dịu tâm hồn cũng không thỏa mãn hoàn toàn chứng u uất và sự bế tắc của Soseki, ông tìm đến thử nghiệm những cái chết trong các tác phẩm giai đoạn sau Làm sao ta có thể tìm ra một lối thoát ngoại trừ đi tu, phát điên hoặc chết.[72] Tìm sự giải thoát trong cái chết Trong bối cảnh xã hội đáng thất vọng, những cá nhân chỉ biết đứng bên lề, bình phẩm thì những tiêu cực càng phơi bày đến tận cùng của nó, con người càng chao đảo, bế tắc.ông giáo Kushami giữa cuộc tranh luận về con người cá nhân trong phòng sách đã mạnh mẽ nói: Dẫu gì thì gì, xã hội mà cứ phát triển theo cái đà này thì tôi cũng chả muốn sống 63
66 nữa. [38, tr.551] Tâm lý muốn tìm kiếm sự thanh thản bằng cái chết của Soseki thể hiện sự bất lực của ông: không tìm được lối thoát cho chính mình. Ở những tác phẩm khởi nghiệp, những nhân vật của Soseki mong muốn tìm đến cái chết như một phương cách để giải thoát, chứ chưa phải là con đường tất yếu họ phải đi như trong những tác phẩm giai đoạn sau. Ở những tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki, ông đã dự báo trước những cái chết tất yếu của những cá nhân bất lực trước xã hội: Chết là khổ rồi, nhưng không chết được còn khổ hơn nữa. Với những công dân bị suy nhược thần kinh thì sống còn khổ hơn nhiều so với chết. Cho nên người ta cho cái chết là khổ, không phải vì không muốn chết mà vì nỗi lo phải chết như thế nào cho hay đây? [38, tr.579] điều này cho chúng ta cái nhìn thấu hiểu hơn với cái chết của Tiên sinh trong Nỗi lòng, thấu hiểu vì sao ông ta chấp nhận sống vô ích, vật vờ qua nửa đời người mà không tìm đến một kết cục cho mình. Tiên sinh tự tử vì thời điểm đã đến, khi tiếng chuông báo tử của Thiên Hoàng Minh Trị vang lên, một thời đại đã kết thúc, nhưng trên hết, Tiên sinh đã giãi bày được với Tôi điều nhắn gửi với thế hệ mai sau. Con mèo sau khi nghe những trí thức-những cá nhân bất mãn trước thời cuộc bàn luận về cái chết (chết để không phải đau khổ, không phải nhìn thấy những cảnh chướng tai gai mắt của xã hội) đã than thở: Cái chết là nghiệp định của vạn vật. Nếu sống mà không có tác dụng gì thì chết sớm đi có khi lại là khôn. Theo luận điểm của mấy ông thầy kia thì vận mệnh của loài người là sẽ đi tới tự sát. Không khéo thì rồi mèo cũng sẽ sinh ra trong một thế giới bế tắc như thế mất thôi. [38, tr.579]. Con mèo cảm thấy đã trở thành một phần của xã hội con người, con đường mà nó chọn nhằm xác định vị trí của một con mèo bị bỏ rơi, không tên, lọt thỏm giữa xã hội là hòa nhập vào xã hội loài người, nhưng kết cục mà nó nhận được là nỗi đau của con người trong nhân thế, nó đã chết theo một cách rất người: uống bia say và ngã vào bồn nước nhưng cảm giác khi đến với cái chết của nó là cảm giác đến với cõi thái bình, không hề sợ hãi mà thanh thản đón nhận: Tôi đã chết. Chết để được sự thái bình này. Thái bình là cái thứ chỉ có chết mới có được! Nam mô A Di Đà Phật. Nam mô A Di Đà Phật! Hay quá! Tốt quá. [38, tr.582]. Con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki luôn quẩn quanh, u uất không lối thoát, không hiểu những rắc rối phiền toái của mình đến từ đâu. Soseki nhận thấy rằng người Nhật đang suy nghĩ và hành động không giống như bản chất của họ. Nhân vật cậu ấm chỉ biết một mặt hoặc bên trong hoặc bên ngoài, chỉ nhận biết được hoặc tốt hoặc xấu. Chúng tôi gọi 64
67 đây là kiểu nhân vật chưa trưởng thành: nếu hiểu các nhân vật của Soseki là sản phẩm của buổi giao thời, của quá trình hiện đại hóa, thì có thể hiểu những nhân vật này với hành động và suy nghĩ của mình vẫn chưa có sự trưởng thành nhất định. Biểu hiện chưa trưởng thành của con người cá nhân trong làn sóng chạy theo văn minh là điều Soseki muốn đánh động xã hội, chính vì thế chúng ta thấy hiện lên những chân dung khiếm khuyết: Áo Đỏ văn minh nửa vời, ông giáo Kushami là Địa tạng cản đường Ở giai đoạn sau, Soseki xây dựng những nhân vật mang nặng sự tự vấn bản thân nên càng âu sầu ảo não nhưng đã biết kết cục cần thiết cho mình. Con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki coi trọng cái Tôi của mình đến mức trở thành ích kỷ. Con người cá nhân chưa phát triển đầy đủ, vì thế chưa thật sự có ý thức về kẻ khác. Dấu hiệu trưởng thành của con người cá nhân là biết khẳng định mình đồng thời tôn trọng cái khác mình. Quan hệ giữa Cái Tôi và tha nhân không còn là chiều theo số đông mà đã dần phát biểu chính kiến của riêng mình. Ý nghĩa của khẳng định lập trường con người cá nhân dưới ngòi bút của Soseki không phải là sự đề cao tiếng nói cá nhân mà là lập trường xây dựng một cá nhân như thế nào cho đúng. Vấn đề con người cá nhân mà Soseki đặt ra luôn có tính thời sự, luôn mang nặng tâm sự lo sợ cho tương lai của Nhật Bản. Từ những trải nghiệm trong giai đoạn đầu sáng tác, Soseki đã có cái nhìn sắc bén hơn nhưng đồng thời cũng u uất hơn trong giai đoạn viết văn chuyên nghiệp, vấn đề bất cập của con người cá nhân tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả như lời than thở của nhân vật Ichiro trong Người đi đường (Koujin): Từ trải nghiệm cá nhân trong thời đại của mình, tôi thấy lo sợ cho số phận của tất cả mọi người không biết sẽ ra sao sau vài thế kỉ nữa [72] CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT ĐẶC TẢ NHÂN VẬT CON NGƯỜI CÁ NHÂN Nhân vật con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki được xây dựng nhằm mục đích phát biểu lập trường cá nhân của tác giả, khẳng định tiếng nói giữa thời cuộc và nghệ thuật, vì vậy hầu hết ngôi kể trong tác phẩm của Soseki đều là ngôi kể thứ nhất: xưng Tôi. Những sự việc họ chứng kiến, tường thuật là bệ phóng để họ bộc lộ suy nghĩ và nhận xét của mình. Tuy nhiên, con người cá nhân trong văn học Nhật Bản không tách rời nhóm xã hội, nếu muốn thể hiện tiếng nói cá nhân họ phải có sự đồng thuận nhất định, Soseki đã khéo léo xây dựng những cặp đôi nhân vật trong tác phẩm của ông, tạo một nhóm hoàn hảo: an toàn, đồng cảm và mạnh dạn phát ngôn. Tâm lý nhân vật con người cá nhân trong văn 65
68 học Nhật Bản luôn e sợ dư luận xã hội, luôn thường trực tâm trạng bất an và tìm kiếm sự an toàn. Trong tác phẩm của Soseki nó dẫn đến nhân vật luôn gắn liền những không gian đặc thù Ngôi kể Tôi và nhân vật tự thuật Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) trở thành chủ lưu trong văn học cận kim Nhật Bản, mặc dù các nhà văn lớn Nhật Bản như Mori Ogai và Natsume Soseki ra sức chống đối, nhưng không thể phủ nhận những đóng góp của trào lưu này, bởi nó đã đặt nền tảng cho tiểu thuyết tự thuật (watakushi shosetsu) hay Tư-tiểu thuyết (tiểu thuyết nói về cái Tôi). Trong đó tác giả sử dụng trực tiếp tiểu sử và kinh nghiệm sống của mình làm chất liệu để sáng tác. Bắt nguồn từ lý luận của chủ nghĩa hiện thực, tiểu thuyết nói về cái Tôi nhanh chóng trở thành dòng văn học chính đầu đời Taisho. Thể loại nhật ký và tùy bút của Nhật Bản được xem là ảnh hưởng gián tiếp và nuôi dưỡng khát vọng bày tỏ của con người cá nhân, khi gặp làn sóng ảnh hưởng văn học Âu Mỹ: tiểu thuyết tự thuật (I-novel) nó đã tạo ra thể loại tiểu thuyết nói về cái Tôi, thổi bùng khát vọng bày tỏ cái riêng tư trong thời cận hiện đại. Sau hai nhà văn tiên phong là Shimazaki Toson và Tayama Katai thì Mori Ogai và Natsume Soseki đã ghi tên mình vào những cây bút hàng đầu ở thể loại tiểu thuyết này. Nhân vật tham tán ngoại giao Watanabe trong Đang trùng tu (Mori Ogai) được xem là nhân vật tự thuật, với câu nói: Ở đây là Nhật Bản [57] hoan nghênh một Nhật Bản đang xây dựng để bắt kịp làn sóng hiện đại hóa. Với Natsume Soseki, hầu hết giới phê bình đều cho rằng nhân vật cậu ấm trong Cậu ấm ngây thơ là hình ảnh của chính ông với nhiều chi tiết trùng hợp về tiểu sử (ở nhà bà con một thời gian, từng dạy học tại tỉnh Matsuyama) và tính cách chính trực. Trong giai đoạn khởi nghiệp, Soseki luôn sáng tạo nhân vật dựa trên nguyên mẫu là ông, bạn bè làng văn của ông những sự kiện trong cuộc đời ông đều trở thành điểm nhấn trong tác phẩm. Soseki gây hiểu lầm cho độc giả rằng đó là tác phẩm tự thuật, tuy nhiên những tiểu thuyết Tôi là con mèo, Cậu ấm ngây thơ, Gối đầu lên cỏ chưa phải là tiểu thuyết tự thuật thực sự, đó là những tác phẩm hư cấu mang tính tự thuật. Đặc điểm này giúp Soseki bày tỏ lập trường cá nhân của mình một cách thẳng thắn giữa xã hội thông qua những nhân vật mang hình bóng của ông. Ngôi kể Tôi có cái nhìn chủ quan trước thế giới và thỏa sức bày tỏ nội tâm với những nỗi niềm sâu thẳm. Rõ ràng với tôn chỉ sáng tác nhằm khẳng định lập trường cá nhân, thì 66
69 ngôi kể Tôi là sự lựa chọn hợp lý và thận trọng của Soseki. Những tác phẩm mang tính tự thuật của nhà văn Mori Ogai như Đang trùng tu hay Nàng vũ công đều không sử dụng ngôi kể thứ nhất. Tác giả đóng vai trò người kể chuyện, nhân vật chính ở ngôi thứ ba. Mori Ogai từng tự gọi mình là người quan sát, ông kể chuyện bằng giọng thản nhiên theo xu hướng khách quan vì vậy những tác phẩm của Mori Ogai không đặt trọng tâm ở sự phát biểu chính kiến như Soseki. Nhân vật Tôi cho biết góc nhìn hiện thực với những biến động liên tiếp được thâu nhận, cái Tôi giữa vòng quay của xã hội kể về trải nghiệm của bản thân mình và tất nhiên đằng sau nó là bóng dáng của nhà văn. Nhân vật Tôi không đơn giản chỉ thuật lại câu chuyện như nó vốn có mà luôn bộc lộ chính kiến. Người kể chuyện của Soseki, đồng thời là nhân vật tự vấn, phản tỉnh và đúc kết chân lý của cuộc đời. Qua ngôi kể Tôi, Soseki khiến người đọc chấp nhận chính kiến của mình một cách kín đáo, nhẹ nhàng, tự nhiên dù những chính kiến cá nhân đó không dễ dàng được chấp nhận giữa những quy tắc ràng buộc của nhóm. Con mèo với danh xưng Tôi là nhân vật thoải mái nhất của Soseki, vì nó không thuộc thế giới con người nên những nhận xét của nó rất khách quan. Con mèo châm biếm giới trí thức, tư sản, tầng lớp lao động, học sinh bằng khả năng hiểu biết của người và khả năng đột nhập mọi ngóc ngách của mèo. Nó tường thuật mọi diễn biến ở những nơi nó hiện diện, thậm chí nó diễn tả cả những ngóc ngách tâm lý. Cùng sử dụng ngôi kể Tôi nhưng ở mỗi tác phẩm, Soseki chứng tỏ khả năng biến hóa tài tình của mình, đến Cậu ấm ngây thơ, Tôi không kể câu chuyện của người khác mà tường thuật trải nghiệm của bản thân, điều này mang đến sự đối đầu hấp dẫn giữa một cá nhân kiên định trước mọi biến động của xã hội. Nếu con mèo cho chúng ta một cái nhìn toàn diện của những cá nhân đối chọi nhau thì cậu ấm với câu chuyện về chính mình khiến chúng ta suy đoán bản chất của người khác. Theo lời kể của cậu ấm người đọc cũng hoang mang giữa Áo Đỏ và Nhím. Gối đầu lên cỏ nếu được kể bằng ngôi thứ ba khách quan thì chúng ta sẽ không có được những tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc từ cái Tôi vượt thoát chúng nhân. Cần lưu ý rằng trong tiểu thuyết mang tính tự thuật thì không chỉ ngôi kể thứ nhất mới mang hình bóng của tác giả. Ông giáo Kushami (Tôi là con mèo), Áo Đỏ (Cậu ấm ngây thơ) là những nhân vật tự trào của Soseki, những nhân vật xưng Tôi mang tính tự thuật. Chúng tôi cho rằng Soseki đã phân thân mình thành nhân vật tiêu cực và nhân vật cảnh tỉnh 67
70 để soi xét lại hành động của mình. Ngoài mục đích khẳng định lập trường cá nhân, ngôi kể Tôi giúp Soseki giải tỏa ẩn ức tâm lý, thử nghiệm bản thân qua nhiều số phận. Cái Tôi của tác giả thực hiện cuộc hành trình qua nhiều tác phẩm, sống cuộc sống giả định với những biến cố không thể đoán định, đối diện những tình huống chân thật của cuộc đời. Qua các nhân vật của mình, Soseki thử nghiệm cách ứng xử của bản thân đồng thời thăm dò phản ứng của xã hội, ông thể hiện con người u uất và chán ghét xã hội qua hình ảnh ông giáo Hắt hơi dạy tiếng Anh không hòa hợp với vợ, luôn thành kiến với giai cấp tư sản và lánh đời trong phòng sách. Nhân vật này sẽ tiếp tục phát triển thành nhân vật Tiên sinh hoài nghi bản thân và cuộc đời, bỏ phí thời gian trong phòng sách ở Nỗi lòng (Kokoro). Natsume Soseki thực hành lý tưởng công bằng xã hội qua hành động trả đũa, trừng trị những con người xấu xa của cậu ấm. Ông trở thành chàng họa sĩ lánh xa cõi đời ô trọc, đắm mình trong nghệ thuật và triết học để thanh lọc tâm hồn (Gối đầu lên cỏ). Tôi trong tác phẩm của Soseki luôn là nhân vật lưỡng lự giữa hai thế giới: thế giới loài mèo-con mèo-thế giới loài người (Tôi là con mèo), nhu cầu cá nhân-cậu ấm-đòi hỏi của xã hội (Cậu ấm ngây thơ), thế giới hiện thực-họa sĩ-thế giới nghệ thuật (Gối đầu lên cỏ). Chỉ có ngôi kể Tôi mới có thể phát biểu chính kiến của mình giữa hai ngả đường. Qua sự lựa chọn con đường, lập trường cá nhân trong cuộc sống và trong nghệ thuật được xác định như chàng họa sĩ trong Gối đầu lên cỏ đã khẳng định lập trường nghệ thuật qua bức tranh về nàng Nami (hình ảnh của nàng tạo ra sự ám ảnh, nhập nhằng giữa phương Đông và phương Tây): Tuy nhiên nếu gương mặt một người chết trôi mà mà lại có được sự bình yên đến thế thì hình ảnh ấy phải là một huyền thoại hay một biểu tượng. Thể hiện sự đau đớn vể thể xác thì sẽ làm hỏng tinh thần của bức tranh, nhưng nếu là gương mặt hoàn toàn bình thản, không có vẻ gì là đau khổ thì không phản ánh được tình cảm của con người. Phải vẽ một khuôn mặt như thế nào thì mới là thành công nhỉ? Bức tranh Ophelia của Millias thì đúng là thành công đấy, nhưng tôi không tin rằng thế giới tinh thần của danh họa và mình lại giống nhau. Millais là Millais, tôi là tôi. Vì vậy tôi muốn vẽ một bức trang về sự an lạc ở người chết đuối, xuất phát từ cảm hứng của riêng mình. Nhưng chẳng dễ gì mường tượng được gương mặt mà mình muốn thể hiện. [37, tr ] Sự cẩn trọng và cân nhắc của chàng họa sĩ đã tỏ rõ lập trường riêng trong sáng tác nghệ thuật. Tâm hồn anh luôn canh cánh, thoát khỏi sức ám ảnh của bức tranh nàng Ophelia 68
71 phương Tây. Chàng họa sĩ biết rằng mình cần phải làm gì để tìm kiếm nét mặt thật sự của nàng Nami, ở nàng còn thiếu cảm xúc Aware, cảm xúc đáng lẽ phải hiển hiện ở một cá nhân bất hạnh trong xã hội. Hạn chế của ngôi kể Tôi là điểm nhìn không toàn diện, biên độ bao quát không rộng lớn do mang tính chủ quan nhưng để đảm bảo chủ đích giãi bày và thử nghiệm, Soseki đã xử lý khéo léo vấn đề này. Ông giúp nhân vật thâu nhận nhiều sự kiện. Hình ảnh con mèo với khả năng có thể lẻn vào bất cứ nơi đâu nghe được bất cứ câu chuyện gì là khát vọng nắm bắt tất cả trong tác phẩm của Soseki. Một yếu tố nữa đó là những không gian nhỏ thu thập sự kiện gắn liền với các nhân vật của Soseki mà chúng tôi sẽ khai triển vào phần sau. Lối kể chuyện dí dỏm, đầy châm biếm của giọng kể ngôi thứ nhất trong giai đoạn đầu sáng tác cũng là sự khác biệt lớn trong vấn đề con người cá nhân trong các giai đoạn sáng tác của Soseki. Những đề tài nhàm chán của giới trí thức nhàn rỗi qua giọng kể châm biếm, hóm hỉnh của con mèo luôn gây thích thú; cậu ấm với giọng kể hồi ức cuộc đời mình đầy tính ngang tàng, dí dỏm, dứt khoát; chàng họa sĩ với giọng kể chậm rãi, thảnh thơi, nhẹ nhàng. Nhưng ở những tác phẩm giai đoạn sau, người đọc không còn bắt gặp một cái Tôi dám thử thách, ngang tàng, mạnh mẽ, mà thay vào đó là nỗi u uất hiện lên đậm nét. Sự thử nghiệm của Soseki qua từng nhân vật xưng Tôi mang đến sự phong phú và tính chất trải nghiệm của từng nhân vật nhưng đồng thời nó cũng đẩy nhân vật vào sự quẩn quanh không lối thoát. Ngay trong nội tại một tác phẩm, cái Tôi của con mèo đã trải qua rất nhiều nỗi thất vọng và chán chường, giọng kể ban đầu của nó từ sự châm biếm mang tính hài hước và bất cần nhưng đến cuối tác phẩm nó đau đớn và buồn nản, con mèo thử nghiệm làm một cá nhân giữa xã hội và nó thoát ra bằng cách buông xuôi thân mình trong bồn nước: chết để được Thái bình. Con mèo là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho sự bơ vơ lạnh lẽo, lạc lõng của Soseki khi ở nước Anh, dù chua cay vì xã hội loài người đến mức nào, nó vẫn không cưỡng lại được bản tính vốn dĩ của loài người là hiếu kì, muốn biết về mọi thứ. Nhưng con mèo cũng giống như con người, càng biết càng đau khổ. Soseki đã tìm được niềm an ủi khi xây dựng nhân vật cậu ấm và người họa sĩ, trong tâm trí của mình họ thoải mái nhận xét về xã hội, về nghệ thuật, họ thoải mái hành động và thăng hoa. Tiểu thuyết tự thuật đúng nghĩa nhất của Soseki là Cỏ ven đường (Michikusa), được hoàn thành trước khi ông qua đời không lâu. Cuộc đời của Giáo sư Kenzo chính là cuộc đời 69
72 của Soseki. Kenzo được sinh ra khi cha mẹ ông đã cao tuổi, đó là điều xấu hổ. Để tránh lời dị nghị, họ cho ông làm con nuôi một gia đình khác và sau này miễn cưỡng nhận ông về nuôi. Khi trưởng thành Kenzo được cử sang du học ở Châu Âu. Ông hi vọng một cuộc sống tốt đẹp trong thế giới tư tưởng phương Tây trong khi luôn đau đáu về giá trị truyền thống của Nhật Bản. Khi trở về từ phương Tây, Kenzo luôn tâm niệm rằng mình phải làm điều gì đó thật xứng đáng cho đất nước. Giống như bất kì một thanh niên phương Tây nào, Kenzo tin vào tự do cá nhân vì lợi ích tự do cá nhân anh ta sẵn sàng chấp nhận nghèo đói Soseki miêu tả một Kenzo đầy ảo tưởng, tham vọng, tự tin và chính những điều đó gây cho anh ta bao nỗi u uất, Kenzo đã tự lừa gạt chính bản thân mình. Anh ta tin rằng quyền lực cá nhân của mình có thể quyết định tất cả nhưng thực chất chính môi trường xã hội đã định hình nên anh ta. Bi kịch của Kenzo là luôn ngộ nhận về bản thân mình. Cuộc đời Kenzo là cuộc đời của Natsume Soseki được ông phơi bày không giấu giếm, những suy nghĩ, chính kiến, bất mãn về từng ngày sống trên thế gian được ông miêu tả tường tận. Cỏ ven đường mang đến chân dung một Natsume Soseki chân thực nhất. Các nhân vật trong giai đoạn đầu sáng tác của Natsume Soseki đều lấy từ nguyên mẫu ngoài đời sống của ông, ông tự trào qua nhân vật ông giáo Hắt hơi, khẳng định lập trường cuộc sống qua tiếng nói của con mèo và thể hiện cá tính nghệ thuật qua những tuyên ngôn của chàng họa sĩ. Nhà văn Natsume Soseki đã sử dụng ngôi kể Tôi với mục đích nhập vai nhân vật để thử nghiệm trong cuộc sống. Hình thức thử nghiệm này mang đến rất nhiều tác dụng: tránh động chạm sự phản đối của nhóm, thử đi trên nhiều con đường để tìm hướng đi đúng đắn, giải tỏa sự ức chế trước những vấn nạn của xã hội. (Người viết nhấn mạnh). Nhân vật của Soseki giúp ông bày tỏ lập trường cá nhân của mình công khai và hợp lý. Sử dụng ngôi kể thứ nhất để thâu tóm hết sự việc trong tầm mắt, cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của Soseki là nhát cắt có chủ ý lồng vào những lời bình luận rất chủ quan nhưng ông vẫn đảm bảo xác tín của sự việc. Ngôi kể Tôi mà Soseki sử dụng giúp ông đứng ở vị trí quan sát, đây là một trong những đặc trưng tâm lý của một cá nhân luôn thận trọng trước xã hội: xu hướng nắm bắt tâm lý người khác nhưng không muốn người khác đọc được suy nghĩ của mình. 70
73 3.2 Cá tính hóa nhân vật Mỗi nhân vật của Soseki đều mang đặc trưng rất riêng. Ngay cả những nhân vật phụ, Soseki cũng rất chăm chút, thể hiện đúng tinh thần của một xã hội Các cá nhân đang mạnh lên ngang nhau. Soseki sử dụng bút pháp cá tính hóa nhân vật khi ông muốn phân biệt từng cá nhân trong một nhóm, tiêu biểu nhất là nhóm trí thức nhàn rỗi trong Tôi là con mèo và nhóm giáo viên trong Cậu ấm ngây thơ. Chỉ thế giới loài mèo (Tôi là con mèo) cũng đủ gây kinh ngạc, mỗi con mèo là một đặc điểm khác nhau, con mèo luôn nhắc nhở rằng thế giới loài mèo của nó cũng có sự phân biệt rõ ràng, trong khi con người chỉ thích gọi chung chung và nó cho rằng loài người chẳng hiểu gì về thế giới loài mèo. Con mèo ở nhà ông giáo nên nó tự cho rằng mình rất trí thức, chị Bạch nhà một quân nhân luôn sướt mướt vì mất con, cậu Mike nhà luật sư luôn lý luận, Tam Mao nhà bà thầy dạy đàn như một cô tiểu thư yểu điệu, Đen nhà hàng xe như kẻ lang thang bất cần đời luôn chán nản vì bị đối xử bất công. Những người thường xuyên lui tới nhà ông giáo Kushami là những đại biểu của giới trí thức và tư sản, mỗi người một vẻ mang đến bức tranh toàn cảnh về các tầng lớp trong xã hội Nhật Bản thời kì đó. Nhân vật Meitei là kiểu nhân vật độc đáo của Soseki: Ông Meitei này, chắc là nghĩ nhà của người khác cũng là nhà mình nên chẳng cần chờ ai mời cũng cứ vào. Thậm chí có khi ông còn lẻn vào bằng cả cửa sau nữa. Đây là một con người mà từ khi lọt lòng sinh ra đã rơi sạch đi đâu tất cả những khái niệm như lo lắng, e ngại, ý tứ, vất vả. [38, tr.105] Soseki đã xây dựng nên một nhân vật hết sức tự nhiên, thoải mái, không cung cách, qua những câu chuyện vô thưởng vô phạt của Meitei, cái vỏ rỗng của giới trí thức Nhật Bản thời kì đó hiện ra rõ mồn một. Meitei luôn đến nhà ông giáo một cách tự nhiên với những câu chuyện bịa đặt và trêu chọc. Ngay cả chuyện thất tình của ông ta cũng kì lạ và tếu táo. Kể chuyện ăn bữa cơm rắn cầu kỳ nhưng cái chính là cô con gái chủ nhà mà ông đem lòng mến mộ khi nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp và mái tóc hợp mốt. Nhưng khi nhìn thấy đầu trọc của cô gái và phát hiện đó là mái tóc giả, ông ta thất tình và ở vậy từ lúc đó. Cái tếu táo của Meitei cũng gần như là sự trốn tránh trước hiện thực nhiễu nhương, những câu chuyện bịa của ông ta là thế giới ông tự bịa ra cho mình để tự an ủi mình, tự tạo niềm vui cho mình. Chuyện hôn nhân mập mờ với tiểu thư nhà Kaneda làm nổi bật lên chân dung của Kangetsu, một học trò xuất sắc, một nhân tài của Nhật Bản theo nhận xét của ông giáo và 71
74 Meitei, để cưới được con gái nhà Kaneda, theo yêu cầu của nhà họ anh phải trở thành tiến sĩ. Để trở thành tiến sĩ, hàng ngày anh ta đi mài viên thủy tinh, mài qua năm này tháng nọ, mài xong có thể trở thành tiến sĩ, một chi tiết rất hóm hỉnh của Soseki. Thế nhưng đến cuối cùng anh ta không mài nữa, và cưới vợ ở quê, chuyện với con gái nhà Kaneda coi nhưng không. Anh ta còn sáng tác bài kịch nội dung trống rỗng để lên tiếng tranh luận về vấn đề kịch cũ kịch mới, anh ta cũng học đàn violon và mức độ kể chuyện dông dài về lịch sử chơi đàn của anh ta cũng khiến Meitei ngả mũ chào thua. Kangetsu là một trí thức sống trong thế giới tưởng tượng, cao siêu, không thực tế giống như tên gọi mơ mộng của anh (Kangetsu: Hàn nguyệt). Một chi tiết khá mơ hồ về anh Kangetsu này là cái đêm nhà ông giáo bị trộm (trộm một hòm khoai, áo khoác, dây lưng), con mèo nhìn thấy khuôn mặt kẻ trộm giống hệt anh Kangetsu nhưng cũng phủ nhận chắc không phải anh ta. Đến lúc cảnh sát bắt được kẻ trộm thì không hề thấy chi tiết ông giáo và cả Meitei nhìn kẻ trộm giống Kangetsu. Rốt cuộc chỉ có con mèo nhận thấy sự giống nhau giữa một anh học trò và một kẻ trộm. Học trò cũ hay lui tới nhà ông giáo không chỉ có Kangetsu mà còn có Sanpei, họ là hai hình ảnh đối ngược nhau. Anh Kangetsu thì chăm chăm con đường nghiên cứu lực học, còn anh Sanpei làm kinh doanh, luôn thuyết phục thầy mình về cái lợi của nhà doanh nghiệp, làm doanh nghiệp sẽ kiếm được nhiều tiền hơn. Tofu là một người say mê nghệ thuật, thành lập hội kịch, thường xuyên tổ chức diễn những vở kịch và ngâm thơ. Anh ta đi đâu cũng muốn giải thích tên họ của mình, từ Tofu (Đông Phong-gió đông) rất thích đọc theo âm tiếng Nhật là Kochi. Ochi Kochi nghe như thành ngữ gần xa, nghe rất có vần điệu. Cậu ta phàn nàn rằng nếu đọc theo âm Hán là Tofu thì mọi người chẳng hề hiểu cho cái dụng ý rất công phu không dễ gì có được của tôi cả [38, tr.80]. Tofu là một chàng trai có tâm hồn nghệ sĩ đến nỗi, chỉ mình anh ta kiên nhẫn nghe câu chuyện dông dài, tẻ ngắt của anh Kangetsu về chuyện anh ta lén lút mua cây violon như thế nào với một niềm say mê. Nhà triết học là một nhân vật bí ẩn của Soseki, nhân vật này không được miêu tả kĩ lưỡng về tên tuổi, ngoại hình như những nhân vật khác. Cái được tô đậm ở đây là tiếng nói của ông. Nhân vật này xuất hiện sau những sự kiện dồn dập xảy ra làm đau đầu ông giáo, làm ông quá mệt mỏi và chán ngán. Chúng tôi cho rằng nhân vật này đại diện cho tiếng nói của tác giả. Nhà triết học so sánh Meitei và Suzuki với tư cách là người bạn cũ, Meitei cứ bồng bềnh như miếng bột xốp nổi trên mặt hồ, Suzuki là người khôn ngoan ở đời, nếu 72
75 Meitei là một viên bộp xốp thì Suzuki là một miếng bánh đúc rơm, lúc nào cũng suôn sẻo một cách xấu xa, rung bần bật. Nhà triết học tự ví mình là củ khoai rừng dài ra nhưng vùi trong bùn sống như tất cả mọi người bình thường khác, chẳng có gì đáng phải thèm muốn cả, không oán giận ai. Chỉ riêng tính cách này đã hé lộ chân dung của Soseki, ông tự tạo nên tiếng nói cảnh tỉnh bản thân sau bao nhiêu biến cố Cách đặt biệt danh trong Cậu ấm ngây thơ thể hiện sự tài tình của Soseki trong việc điểm diện tính cách của con người. Cậu ấm với cách nhìn đời thẳng thắn của mình đặt biệt danh cho tất cả giáo viên trong trường. Ông hiệu trưởng với biệt danh là Lửng (Tanuki) trong tiếng Nhật là một con vật hay biến hóa để trêu chọc lừa gạt người khác, Tanuki tượng trưng cho loại người ranh mãnh, láu cá, giả dối. Ông hiệu trưởng luôn sợ tổn hại đến thanh danh của mình, giả vờ đạo mạo, đòi hỏi cao ở giáo viên nhưng chính bản thân lại không thực hiện được, chính nhờ đầu tàu như ông mà ngôi trường đã đào tạo ra những học sinh như những tên du đãng, thiếu đạo đức. Áo Đỏ là biệt danh của hiệu phó, một trí thức có học vị cao nhất trong trường, anh ta luôn cư xử cho ra dáng một cử nhân đã tốt nghiệp đại học. Biệt danh này được đặt theo chiếc áo đỏ mà ngài hiệu phó mặc trong mọi hoàn cảnh ngay cả khi trời nóng bức để thể hiện sự thức thời của mình. Nó thể hiện sự phô trương, khoe mẽ, sáo rỗng nhưng ẩn chứa bên trong là con người giảo hoạt, đê tiện, hiểu biết nông cạn về văn minh phương Tây. Có thể nói Áo Đỏ là điển hình cho sự xấu xa của người trí thức, luôn sử dụng tiếng Anh một cách nửa vời, khiên cưỡng, luôn giả bộ là một con người chuẩn mực nhưng thực chất sống tha hóa, luôn tỏ vẻ đạo đức nhưng lại đâm sau lưng người khác Đi cùng Áo Đỏ là Hề Trống, một kẻ chuyên nịnh nọt, phụ họa tán dương cho những hành vi khoa trương sáo rỗng cho Áo Đỏ. Hề Trống (Nodaiko: người diễn trò hề trình độ thấp, không chuyên nghiệp) nhằm để chỉ con người rẻ mạt, đáng khinh. Bí Đỏ được đặt biệt danh vì thân hình phù nề và nước da nhợt nhạt của anh, một người đàn ông mẫu mực hiền lành theo đúng truyền thống nhưng quá nhút nhát và bị động. Những nỗi đau khổ trong cuộc đời của anh phần nhiều do tính cách của anh gây ra. Thầy dạy toán Hotta có nhiều tính cách tương đồng với cậu ấm, vẻ ngoài xù xì, góc cạnh, vạm vỡ và tính cách kiên định, gai góc rất phù hợp với biệt danh Nhím. Định danh cho nhân vật của mình chính xác và tuyệt đối như những gì họ thể hiện trong tác phẩm là nét riêng của Soseki, chỉ cần đọc tên nhân vật, người đọc đã mường tượng được tính cách của họ như thế nào: bà Kiyo (Thanh cao) đại diện cho tinh thần truyền thống 73
76 Nhật Bản với lòng nhân hậu, tận tụy; Nàng Nami (Diễm ảo) mang dáng hình mờ ảo, khó nắm bắt, mỏng manh như sương khói. Bút pháp này giúp Soseki kiệm lời giới thiệu nhân vật, nhân vật của ông chứng minh tên gọi của mình qua suy nghĩ và hành động. Cá tính hóa nhân vật xuất phát từ nhu cầu muốn định vị bản thân trong xã hội của con người đồng thời nó khắc sâu vào trí nhớ người đọc những nhân vật tiêu biểu, điển hình của Soseki Cặp đôi nhân vật Chúng tôi nhận thấy trong sáng tác của Soseki, con người cá nhân không bao giờ muốn mình chiếm lĩnh riêng một thế giới, họ khẳng định cá tính nhưng luôn chú trọng khía cạnh an toàn, dù không được lòng ai như ông giáo Kushami hay ngang bướng như cậu ấm, khác người như nàng Nami thì họ vẫn không bị hụt hẫng và sợ hãi. Những nhân vật cá nhân của Soseki luôn có đồng minh, dù thất bại trong tất cả các mối quan hệ, con người vẫn luôn an toàn trong một nhóm bất kì.ông giáo Kushami có những người bạn trí thức luôn lui tới nhà mình nói chuyện, đàm đạo. Nếu không có họ hẳn ông không bình chân như vại và mặc kệ những lời mỉa mai, châm biếm của mọi người, vì ít ra, ông nhận thấy xung quanh mình có những người như mình. Cậu ấm khi xa rời vú nuôi Kiyo, lập tức anh ta trở nên bơ vơ và không biết mình phải làm gì, anh ta cư xử như bản tính vốn có và khi thấy thái độ của mọi người đối với anh ta không như bà Kiyo đối với anh ta, anh ta buộc phải suy nghĩ lại hành động của mình. Anh ta có cảm tình với Nhím vì nhận thấy tính cách khá giống mình, nhưng khi bị Áo Đỏ tung hỏa mù, anh ta nghi ngờ Nhím và lập tức trở nên bơ vơ, cô độc, mất phương hướng. Khi kết thân với Nhím trở lại, cậu ấm lại hùng hổ và mạnh dạn như lúc đầu. Về phần Nhím dù cũng thấy rất bất mãn trước ngôi trường đáng chán và những thầy giáo mất tư cách nhưng anh ta chỉ nín nhịn, phải đợi đến khi có cậu ấm, anh ta mới phản kháng mạnh mẽ. Chàng họa sĩ là đồng minh của Nami, đối diện anh, cô có thể thỏa sức bày tỏ suy nghĩ và hành động khác người của mình mà không bị gọi là điên như dân làng vẫn gọi. Anh tìm thấy ở cô một hình mẫu nghệ thuật anh theo đuổi, cô tìm thấy ở anh một người thông cảm và sẻ chia: Giữa hai người chúng tôi lúc này đang vương vấn một sợi chỉ nhân duyên mỏng manh, phần nào giống với tình cảm trong bài thơ ấy. Nếu nhân duyên chỉ là một sợi chỉ mong manh như thế này thì chẳng có gì là đau khổ. Nhưng đây không phải là một sợi chỉ thông thường. Nó giống như cầu vồng giăng ngang, như sương khói mênh mang trên đồng 74
77 ruộng, như sợi tơ nhện lấp lánh giọt sương. Mong manh dễ mất và tuyệt đẹp trong khoảnh khắc mà chúng ta chiêm ngưỡng. [37, tr.74] Nàng Nami được soi chiếu dưới hai lăng kính, nếu soi chiếu dưới lăng kính của cõi đời phù thế nàng là người kì quặc, dị thường, nhưng nếu soi chiếu dưới đôi mắt của người nghệ sĩ nàng là một hình mẫu hoàn hảo: Tôi là một họa sĩ. Còn cô ấy thì lại không giống như một cô gái bình thường. [37, tr.74] Vì thế tôi đã nhìn thấy ở cô ấy một vẻ gì như là sự khát khao nương tựa [37, tr.61] Nami bị dân làng đàm tiếu, gia đình xem là người thừa, cô khát khao một sự đồng cảm, xuất phát từ ý thức nhóm và tình trạng lạc lõng giữa xã hội. Những nhân vật trong tác phẩm của Soseki không đơn độc trước số đông của xã hội nhưng lại đơn độc trong chính bản thân mình. Họ có đồng minh, và tin vào sức mạnh của đồng minh, chính điều này đẩy họ ra xa những mối quan hệ khác (ruột thịt, bạn bè, thầy trò), chỉ chú ý đến tư tưởng tương đồng. Trong phần Ngôi kể tôi chúng tôi đã lưu ý nhân vật kể chuyện và nhân vật chính trong tác phẩm, cả ba tiểu thuyết giai đoạn đầu của Soseki đều có cặp nhân vật Tôi và nhân vật chính, cặp nhân vật này không đơn thuần chỉ là người kể chuyện và nhân vật chính trong câu chuyện. Soseki xây dựng những cặp đôi này dựa trên sự khát khao đồng cảm và dè chừng xã hội. Cặp đôi nhân vật phản ánh cách nhìn lưỡng phân của Natsume Soseki trước cuộc đời. Cặp đôi nhân vật Con mèo-ông giáo (Tôi là con mèo) mang mục đích: Nhìn kĩ hơn. Con mèo được xây dựng không giống như con mèo bình thường, nó được chuẩn bị và hấp thụ kiến thức một cách tự nhiên, từ chỗ ghét loài người, nó cảm thấy mình không còn là mèo nữa, nó đã hòa nhập vào xã hội loài người. Giọng kể của con mèo về tất cả các nhân vật đều mỉa mai châm biếm, nhưng con mèo mang những đặc điểm rất giống ông giáo Kushami. Ông giáo là hình ảnh biếm họa mà Soseki tự trào, đây là nhân vật thể hiện nhược điểm của Soseki và con mèo là đại diện cho cái nhìn nghiêm khắc của ông trước bản thân mình và xã hội Âu hóa thời kì đó. Giữa hai nhân vật này tồn tại một mối lương duyên, ông giáo để con mèo xấu xí vào nhà mình mà theo bản tính thông thường hẳn ông đã không can thiệp khi chị bếp nhiều lần đuổi con mèo đi. Là một người hay nhận xét và suy đoán người khác nhưng ông giáo vẫn bảo vệ con mèo trong khi nó không mang lại lợi ích gì: không bắt chuột, không đánh động khi có trộm, nhàn nhã nằm lười suốt ngày. Nó chính là bản sao của ông: không muốn làm gì, chỉ muốn buông xuôi, nghe chuyện đời và nhận xét người khác. Anh Tofu -học trò của ông giáo kể về hội ngâm thơ của mình với buổi họp đầu tiên thành công, 75
78 thế nhưng đang diễn kịch thì bị các nữ sinh cười, anh Tofu không diễn được nữa, vở kịch phải bỏ dở nửa chừng: Đấy lần đầu tiên nói là đã thành công mà như vậy. Còn nếu bảo là đã thất bại thì không biết nó thế nào nhỉ? Cứ tưởng tượng mà không nhịn được cười. Tự nhiên từ cuống họng tôi bật ra tiếng gừ, gừ. Ông chủ lại nhẹ nhàng vuốt đầu cho tôi. Cười người khác mà lại được thương yêu thì tốt rồi. Nhưng dẫu sao tôi cũng cảm thấy hơi vô duyên thế nào ấy._thật chẳng ra làm sao.ngày đầu năm mới mà ông chủ đã đọc điếu từ như vậy. [38, tr.67] Con mèo đã biểu hiện cảm xúc thay ông chủ của mình, trước một câu chuyện lố bịch, con mèo cười theo kiểu của nó và nhận được sự tán đồng từ ông giáo. Nếu Soseki đặt bản thân mình vào hai nhân vật ông giáo Kushami và con mèo, theo diễn biến phát triển của câu chuyện, Soseki có một nhân vật giám sát được hành động của nhân vật chính, những lời nhận xét của con mèo về ông giáo Kushami là những kinh nghiệm rút ra từ hành động và suy nghĩ của ông giáo. Con mèo đọc cho chúng ta biết những suy tư của ông giáo, diễn giải những hành động và lối suy nghĩ khác người của ông. Chỉ con mèo mới hiểu rõ bản chất của ông giáo, chỉ cần quan sát thái độ của ông, nó dễ dàng giải thích cho người đọc ông chủ của nó là một người như thế nào: Ông chủ này có một cái tật là rất coi trọng bất cứ cái gì mình không biết. Nhưng không nhất thiết chỉ những người quá quắt như ông mới thế. Những cái mà mình không biết thường hàm chứa nhiều thứ mà mình không thể coi thường, làm nảy sinh tâm trạng cứng cỏi ở những chỗ không lường nổi ấy. vì vậy mặc cho những người phàm cứ đưa chuyện một cách hiểu biết về những cái mà họ chẳng hiểu biết gì, các học giả lại lý giải những cái mà họ đã biết rõ một cách không thể hiểu. Ai cũng biết, ở các trường đại học, có những người dạy những cái chẳng ai hiểu gì thì được đánh giá cao, còn ai dạy những cái có thể hiểu được thì không được hâm mộ lắm. Ông chủ kính phục bức thư này, không phải vì nó có nội dung rõ ràng dễ hiểu, mà ngược lại, vì khó mà nắm bắt được chủ ý của nó ở chỗ nào? [38, tr.407] Con mèo hiểu tường tận suy nghĩ của ông giáo trước một bức thư lạ, hơn nữa nó kể lại câu chuyện về ông giáo như kể tâm trạng của nó, đào sâu vào chỗ khuất, lý giải cặn kẽ hành động của ông giáo. Cậu ấm và Nhím (Cậu ấm ngây thơ) là cặp nhân vật thực hiện lý tưởng công bằng của Soseki. Nhân vật nhân nghĩa, anh hùng, trừ gian là kiểu nhân vật cá nhân thường thấy trong văn học Đông Á thời cận kim. Điều này xuất phát từ ý thức gìn giữ và lo sợ trước những giá 76
79 trị tốt đẹp của đạo đức truyền thống đang dần suy vi trước sự thâm nhập mạnh mẽ của văn minh phương Tây. Cậu ấm và Nhím mang tinh thần Samurai: nóng nảy, dứt khoát, dám làm dám chịu, coi trọng danh dự của mình hơn tất thảy. Họ hiểu lầm nhau, sát cánh bên nhau cũng bắt nguồn từ tinh thần samurai này. Khi là hai cá nhân riêng rẽ, họ bị lung lạc và chưa dám phản kháng mạnh mẽ, khi tìm thấy được đồng minh, người chung chí hướng, họ mạnh dạn dạy cho Áo Đỏ-trí thức nham hiểm bài học làm người, họ trả đũa hắn để lấy lại danh dự của mình. Nếu không gặp nhau, Cậu ấm và Nhím đã không thể thực hiện lý tưởng công bằng xã hội. Họa sĩ và nàng Nami (Gối đầu lên cỏ) là cặp đôi nhân vật của sự gìn giữ nghệ thuật. Soseki tin rằng nghệ thuật là sự nhất trí giữa cái tôi của người sáng tác và cái tôi của người thưởng thức, nhưng khi tự do cá nhân phát triển quá mức sẽ đẩy hai cái tôi đó xa nhau, nghệ thuật không còn tồn tại nữa. Mối quan hệ giữa chàng họa sĩ và nàng Nami là mối quan hệ gìn giữ nghệ thuật, bởi chàng họa sĩ vẽ được bức tranh hằng mong mỏi khi tiếp xúc lâu dài với Nami. Chỉ chàng họa sĩ mới hiểu được sự thiếu sót aware ở cô gái, và chỉ mình chàng họa sĩ mới đủ sáng suốt để nhận biết Nami không phải là người kì dị, quá khích. Nàng biết sống thoát tục ngay giữa cõi đời. Chàng họa sĩ và nàng Nami là sự nhất trí giữa cái tôi của nhà sáng tác và cái tôi của người thưởng thức; Vì thế, tôi đã nhìn thấy ở cô ấy một vẻ gì như là sự khát khao nương tựa, ẩn trong cái vẻ ngoài khinh bạc thế kia. Đằng sau sự nổi loạn ẩn chứa một vẻ sâu lắng dịu dàng. Bên trong sự nỗ lực để thể hiện tài năng và khí phách vượt cả hơn trăm người đàn ông là dòng chảy âm thầm của những đam mê trong sáng. [38, tr.61-62] Gương mặt nàng Nami gợi lên sự khát khao nương tựa và đồng cảm. Chính vì vậy chàng họa sĩ cảm nhận giữa mình và cô gái có một mối lương duyên kì lạ dù mong manh nhưng khó đứt. Gối đầu lên cỏ không đưa đến một câu chuyện tình, nó đưa đến sự gắn bó giữa cái tôi nghệ sĩ và cái tôi người thưởng thức. Chàng họa sĩ và nàng Nami luân phiên hoán đổi vai trò. Nami lúc như một nghệ sĩ trình diễn hình ảnh, hình ảnh giúp chàng họa sĩ đọc được tâm hồn cô gái, giúp chàng vẽ bức tranh ám ảnh trong tâm trí nhưng có lúc Nami chính là người thưởng thức bức tranh của chàng họa sĩ, bức tranh trong trí tưởng tượng đó được thể hiện qua những bài thơ. Cặp đôi nhân vật còn được Soseki mở rộng biên độ ở nội hàm: thế hệ trước-thế hệ sau hay ứng xử theo truyền thống-ứng xử theo hiện đại hiện đại (nhằm cảnh tỉnh thế hệ trẻ) 77
80 trong giai đoạn sáng tác chuyên nghiệp tiêu biểu như cặp nhân vật Tiên sinh-tôi, Tiên sinh- Cha mẹ tôi trong Nỗi lòng (Kokoro). Cách xây dựng nhân vật của Soseki cho thấy một cái nhìn thận trọng trước thời cuộc (kể cả nhân vật Cậu ấm dù nông nổi nhưng hành động chống trả quy mô lớn của anh ta cũng cần một quân sư như Nhím thăm dò và chuẩn bị kế hoạch). Cặp đôi nhân vật minh chứng con người cá nhân của Soseki vẫn bị ràng buộc trong ý thức nhóm. Cặp đôi nhân vật thể hiển bản chất con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki: khác xa hoàn toàn phương Tây, con người cá nhân không tìm cách vượt trội, tạo sự khác biệt với cộng đồng, con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki luôn muốn tìm về bản chất đúng nghĩa của nó, bản chất đã bị che khuất bởi ràng buộc của nhóm và nền văn minh đang phát triển méo mó Con người cá nhân và không gian đặc thù Soseki sử dụng những không gian đặc biệt để tô đậm nhân vật của mình, xây dựng không gian nghệ thuật cũng không nằm ngoài phương châm sáng tác của ông: bám sát bối cảnh xã hội và tâm lý của con người. Phóng chiếu từ hai đặc điểm này, chúng tôi nhận thấy trong giai đoạn đầu sáng tác Soseki sử dụng không gian bối cảnh xã hội. Tác phẩm Gối đầu lên cỏ có không gian nền là thiên nhiên mùa xuân nhưng tần suất không gian bối cảnh thiên nhiên vẫn không thắng thế không gian bối cảnh xã hội. Những chi tiết đắt giá trong tác phẩm diễn ra ở không gian quán nước, nhà trọ, suối nước nóng, tiệm cắt tóc, ngôi chùa, ga tàu và trở thành motif trong hầu hết các tác phẩm khác. Nhân vật con người cá nhân của Soseki được nhận ra trong những không gian đặc thù này. Hầu hết các nhân vật trong sáng tác của Soseki không gắn liền với không gian rộng lớn. Họ luôn loay hoay trong không gian nhỏ bé, đó là ngọa long quật của ông giáo Kushami, cái thị trấn bé tí đi một vòng đã hết trong Cậu ấm thơ ngây, sơn thôn vắng vẻ nhưng không rộng lớn trong Gối đầu lên cỏ. Không gian nhỏ trong sáng tác của Soseki như một khát vọng thao túng, nắm bắt hết mọi sự việc. Soseki luôn tạo ra không gian mà cá nhân có thể kiểm soát được. Nhưng đồng thời những không gian nhỏ mang tính chất hiện đại hóa cũng là nỗi e sợ cho các nhân vật của Soseki. 78
81 Không gian sự kiện Những nhân vật của Soseki được cụ thể hóa và phân biệt bằng bức tranh nội tâm sâu sắc được phơi bày qua từng sự kiện tác động. Như Soseki quan niệm về văn chương, thưởng thức một tác phẩm văn chương phải có tri thức về xã hội. Tác phẩm của ông được xây dựng trên nền tảng những sự kiện xã hội, sự phát triển biện chứng của xã hội, điều đó giải thích vì sao những vấn đề Soseki đưa ra đã tiên đoán đúng tình trạng của xã hội Nhật Bản hiện đại. Nguyên nhân chúng tôi khảo sát không gian sự kiện vì nó gắn liền với suy nghĩ của con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki. Ở chương hai, chúng tôi đã khảo sát tâm lý dè chừng và mong muốn nắm bắt người khác nhưng không muốn người khác nắm bắt mình của con người cá nhân, tâm lý đó tạo nên xã hội đầy rẫy thám tử. Ông giáo Kushami, cậu ấm luôn bị ám ảnh vì sự soi mói của thám tử nhưng họ không biết rằng chính mình cũng đóng vai trò đó. Hình ảnh thám tử gắn liền với hành động thu thập tin tức. Trong tác phẩm của Soseki luôn có những không gian thích hợp để thu thập sự kiện. Không gian sự kiện của Soseki mang đậm tính hài kịch Rakugo phản ánh thái độ, tư tưởng, cách lao động và những kiểu hưởng thụ mang đặc trưng của văn hóa thị dân. Trong đó, văn hóa giải trí, cùng với văn hóa ăn uống và văn hóa đi lại, được coi là một trong những biểu hiện cao nhất của đời sống vật chất, tinh thần của thị dân Edo được phản ánh trong Rakugo. Văn hóa thị dân thật sự tự do, cảm hứng (nhiều khi ngẫu hứng), khoáng đạt và hướng vào những lạc thú tự nhiên của con người. Điều này giúp Soseki xây dựng những nhu cầu bình thường của con người mang tính trào lộng qua ông giáo Kushami và Cậu ấm, đẩy lên thành bất bình thường trong con mắt khắt khe của xã hội. Kỹ viện và kỹ nữ, tắm bồn, tắm suối nước nóng, tiệm cắt tóc đều được miêu tả rất nhiều trong các tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki. Tất cả là những thú giải trí của tầng lớp thị dân, được phản ánh đậm đặc trong hài kịch Rakugo, trong tác phẩm của mình Soseki sử dụng nó để tô đậm tính cách của con người, những thú giải trí đó giúp ông thấu tỏ bản chất của con người. Trong Tôi là con mèo, khung cảnh bồn nước nóng nơi hàng trăm con người đang chen nhau ngâm mình trở thành đề tài cho con mèo nhạo báng. Tiếng bàn tán, bình phẩm chê bai nhau của đủ mọi tầng lớp người, dù đã khỏa thân hoàn toàn nhìn bề ngoài ai cũng như ai nhưng con người vẫn phân biệt nhau rõ ràng qua hành động và lời nói. Những sự kiện được con mèo thâu nhận như một thế giới thu nhỏ của xã hội văn minh đang sôi động ngoài kia, 79
82 người ta nói về súng ống, chiến tranh, cách chữa bệnh nhưng cái mà con mèo kể lại là những cách hành xử cá nhân, lên giọng hiểu biết, tranh giành, quát tháo và nghi kị nhau. Mỗi người trong bồn nước nóng chăm chăm lợi ích của mình với hai chinh rưỡi tiền phí họ tận dụng tối đa vị trí mà mình đã mua. Tắm bồn công cộng, khỏa thân ai cũng như ai nhưng con người vẫn cứ tìm cách hơn thua nhau: Cởi bỏ hết áo khoác, quần đùi, quần dài, cố gắng để cho bình đẳng. Vậy mà trong đám đông trần như nhộng ấy lại vẫn xuất hiện kẻ hào kiệt trần truồng, áp đảo đám người khác. Bình đẳng là cái, dù có trần truồng đến mấy cũng không thể đạt được! [38, tr.332] Khu suối nước nóng trong Cậu ấm ngây thơ giúp cậu ấm khám phá ra bản chất của ngài hiệu phó, đây là nơi lén lút gặp gỡ của ông hiệu phó đạo mạo và cô Madona (đã đính hôn với Bí Đỏ-một thầy giáo khác trong trường), đó cũng là nơi ông hiệu phó lén lút ở cùng nàng Gheisa trong khi ông ta luôn cao giọng: làm giáo viên thì không được giải trí bằng những hình thức tầm thường đó: Áo Đỏ láu cá định trí trá lừa mọi người hay là hèn nhát không dám ra mặt? Nhưng ở cái xứ chật hẹp này, chẳng phải chỉ có một mình tôi đã gặp phiền toái. [34, tr.152] Từ những điều mắt thấy tai nghe về Áo Đỏ, cậu ấm đã biết xử sự như thế nào với kẻ nham hiểm, giảo hoạt như hắn.tiệm cắt tóc trong Gối đầu lên cỏ là nơi chàng họa sĩ nghe câu chuyện về cô gái Nami, những câu chuyện hư hư thực thực, và lời cảnh báo chàng nên tránh xa cô gái. Một không gian thu thập sự kiện khác dường như là motip trong hầu hết những tác phẩm của Soseki đó chính là không gian nhà trọ, không gian của sự tạm bợ và nơi dừng chân trên những chuyến hành trình. Con mèo ở trọ trong nhà ông giáo được chứng kiến toàn cảnh cuộc sống của những trí thức nhàn rỗi, tầng lớp tư sản dựa hơi đồng tiền, chàng họa sĩ và niềm thi vị đặc biệt trong không gian nhà trọ. Cậu ấm và hai lần chuyển nhà trọ được bà chủ nhà kể cho nghe tất cả những câu chuyện từ xưa đến nay trong thị trấn: Bí Đỏ đính hôn với Madona nhưng khi gia đình anh sa sút, cuộc hôn nhân bị hoãn lại, nhân cơ hội đó Áo Đỏ xen vào, Nhím thấy bất bình nên lên tiếng nhưng Áo Đỏ trơ trẽn cãi lại. Những câu chuyện đó khiến cậu ấm hoang mang không biết Áo Đỏ và Nhím ai là người tốt ai là người xấu. Với không gian nhà trọ, mục đích thu thập sự kiện được đặt song song với mục đích chiêm nghiệm cuộc đời. Chàng họa sĩ trong Gối đầu lên cỏ ở nhà trọ suối nước nóng, lần lượt trải qua những trạng thái thăng hoa cảm xúc từ những không gian tuyệt đối yên tĩnh, xa 80
83 lánh bụi trần: Sau đó thì mọi thứ chìm trong yên lặng, giống như không có sự tồn tại của con người. [37, tr.44] So với truyện ngắn của mình, không gian nhà trọ trong tiểu thuyết được Soseki diễn giải kĩ hơn về cảm xúc của nhân vật. Tháp London một trong những tập truyện ngắn được sáng tác trong thời gian ông du học tại Anh, truyện ngắn Phòng cho thuê là truyện cô đọng, tập hợp những cuộc gặp gỡ, không trực tiếp bày tỏ cảm xúc nhưng cảm xúc òa vỡ khi kết thúc câu chuyện, con người không chịu nổi sự tột cùng cô đơn. Truyện ngắn Phòng cho thuê có bối cảnh tại Anh quốc, do đó cảm giác của người ở trọ còn mang một sự lạ lẫm với ngoại nhân. Người ở trọ lần lượt gặp bà chủ nhà trông không giống người Anh, cha bà ta trông giống người Đức, người anh trai không có nét gì giống bà nhưng lại rất giống cô bé giúp việc, người khách trọ K ít khi ở nhà, hay lưu diễn xa. Những con người đó như những mảnh ghép, ít nói, lặng lẽ, họ là người thân nhưng dường như không có mối dây ràng buộc nào. Người viết đơn giản chỉ kể lại và kết thúc câu chuyện nhẹ nhàng Một tháng sau đó tôi rời nhà trọ. [79] Không gian nhà trọ trong những tiểu thuyết giai đoạn đầu của Soseki mang sự thú vị của chốn dừng chân trong những cuộc hành trình. Con người có thể thu nhận sự kiện, diễn biến của cuộc sống và lắng nghe lời nhận xét của người đời Không gian bất toàn Cá tính là bản sắc riêng của từng người đặc biệt trong làn sóng hiện đại hóa mạnh mẽ. Sự xác định cá tính hay theo Soseki là xác định lập trường riêng của mình không phải là mong muốn nữa mà trở thành nhu cầu bức thiết. Tàu lửa-biểu tượng của hiện đại hóa trong sáng tác của Soseki, trở thành phương tiện triệt tiêu cá tính. Trong tác phẩm của Soseki tàu lửa là một hộp kín, nhồi nhét bao nhiêu con người, hạn chế tự do cá nhân, mang con người xa rời tất cả: Cái hay của thế giới thi ca này không phải là cái hay của Hototogisu hay Konjikiyasha. Nó là sự tuyệt vời của một giấc ngủ vùi để quên đi mọi thứ, sau khi đã quá mệt mỏi vì những thứ tàu thủy, tàu hỏa, quyền lợi, nghĩa vụ, đạo đức, lễ nghĩa. [37, tr.21] Tàu hỏa luôn là hình ảnh thường trực trong suy nghĩ của Soseki về sự ngột ngạt, chán nản, là đại diện không thể thích ứng được của văn minh phương Tây. Với lý tưởng công bằng xã hội, nhân vật Cậu ấm luôn cảm thấy kệch cỡm trước sự phân biệt giàu nghèo của những toa tàu, toa hạng nhất 5 chinh toa hạng bét 3 chinh, hơn nhau chỉ 2 chinh nhưng 81
84 những người trên toa hạng nhất thì rất vênh váo. Soseki nhấn mạnh hành động cậu ấm cầm vé hạng nhất nhưng ngồi toa hạng bét không phải chỉ vì để được ngồi gần Bí Đỏ mà đó còn là hành động phá bỏ ranh giới. Hình ảnh con tàu chạy bằng hơi nước trong Gối đầu lên cỏ tượng trưng cho văn minh, nhưng đối với Soseki phương tiện giao thông thuận tiện đó chỉ làm triệt tiêu cá tính : Tôi đang bị kéo về thế giới hiện thực. Theo cách nghĩ của tôi thì thế giới hiện thực là nơi ta có thể nhìn thấy những đoàn tàu hỏa. Không có gì đặc trưng cho sự văn minh của thế kỷ hai mươi bằng tàu hỏa. Những chiếc hộp chạy rầm rập nhồi nhét bên trong cả trăm người. Chẳng có chỗ nào dành cho cảm xúc. Những con người bị nhồi nhét ấy phải di chuyển cùng một tốc độ, dừng lại cùng một nơi, và cùng tắm mình trong thứ hơi nước động cơ của đoàn tàu. Người ta bảo là lên tàu. Tôi thấy như thế là bị nhồi nhét. Người ta bảo là đi tàu. Tôi thấy là bị áp tải. Chẳng có gì chối bỏ cá tính như là thứ tàu này.kiểu văn minh hiện thời cứ như là cấp cho mỗi người một mảnh đất nhỏ xíu như nhau, rồi bảo người ta cứ tùy ý, thức hay ngủ gì trên mảnh đất ấy cũng được. Đồng thời lại dựng lên một hàng rào thép xung quanh mảnh đất kia, không cho người ta bước ra ngoài dù chỉ là một bước Văn minh mang đến cho con người tự do cá nhân, biến họ thành những kẻ hung dữ như mãnh hổ, rồi ném họ vào bên trong cũi sắt để bảo vệ hòa bình. Đó không phải là hòa bình thực sự, mà là kiểu yên bình như con hổ nằm trong lồng sắt nơi thảo cầm viên lừ mắt nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Chỉ cần một thanh sắt của lồng giam rơi xuống là tất cả sẽ tan nát ngay thôi khi thấy sự tương phản giữa những con người cá nhân đang khép mình đến mức co rút lại giữa toa tàu chở khách với đoàn tàu chẳng hề quan tâm đến cá tính của một ai, tôi những muốn hét lên với đám người kia rằng: Nguy hiểm, nguy hiểm kìa! Hãy cẩn thận đề phòng nguy hiểm đấy! Văn minh hiện thời là kiểu văn minh đầy nguy hiểm, đến mức tưởng như thứ mùi nguy hiểm ấy xộc vào tận mũi mình! Mà thứ tàu hỏa cứ lao sầm sập vào khoảng không đen ngòm phía trước là một trong những điều đáng sợ! [37, tr ] Theo cách cảm nhận về thế giới văn minh của Soseki, tàu hỏa là không gian giam cầm những con người đã được cấp cho tự do cá nhân. Tự do cá nhân không xuất phát từ nội tại của con người mà rõ ràng chỉ là lớp vỏ bên ngoài để theo kịp xu thế văn minh. Hình ảnh những con người cá nhân cùng nhau chịu đựng sự nhồi nhét trong không gian biểu hiện sự văn minh đó lại tố cáo ngược lại rằng họ không hề được khẳng định cá tính của mình. 82
85 Soseki gọi nền văn minh hiện nay là văn minh nguy hiểm bởi lẽ nó chỉ như vỏ bọc bên ngoài, con người ngỡ có được tự do cá nhân và phát triển nó nhưng thực chất họ trắng tay. Tàu hỏa - biểu tượng của văn minh, con người biết sẽ bị nuốt chửng nhưng vẫn cứ đi vào, chen chúc nhau, phó mặc cho nó đưa đi bất cứ đâu. Trong tác phẩm Người đi đường (Koujin), tàu hỏa là minh chứng cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật, đối với Soseki tàu hỏa biểu hiện cho sự bất an, đáng sợ: Sự bất an của con người xuất phát từ sự phát triển khoa học. Khoa học phát triển liên tục không hề cho phép chúng ta được nghỉ ngơi. Từ đi bộ đến xe kéo, từ xe kéo đến xe ngựa, từ xe ngựa đến tàu hỏa chạy bằng hơi nước, từ tàu hỏa đến ô tô, rồi đến cả máy bay, cả phi thuyền, dù phát triển cao đến đâu cũng không được dừng lại. Không biết còn tiến đến đâu nữa. Thật đáng sợ. [72] Một không gian khá bất ngờ mang tính chất bó buộc trong tác phẩm của Soseki đó chính là không gian trường học. Nạn nhân của không gian ngột ngạt, bế tắc này chính là thầy giáo và học sinh. Trường học của ông giáo Kushami, Lạc Vân Quán, trường học của cậu ấm đào tạo những con người chẳng ra sao và dập khuôn. Những người thầy càng lúc càng rụt rè, không được kính trọng, bị giam hãm trong những nội quy cứng nhắc, chạy theo bệnh thành tích. Học trò bất kính với người dạy dỗ chúng. Không gian này cho thấy sự bất lực của người trí thức trước hiện trạng giáo dục của Nhật Bản. Trường học trong Cậu ấm ngây thơ không được miêu tả là nơi truyền thụ kiến thức và đạo đức, đó là nơi học sinh trêu chọc thầy giáo, thầy giáo cạnh khóe nhau. Đối với người quen được tự do như cậu ấm thì trở thành một giáo viên trung học chuẩn mực khuôn phép đã là quá sức nhưng không bức bối bằng bị giam hãm trong không gian ngột ngạt của trường học: Dẫu rằng đó là việc bán thân đổi lấy đồng lương, nhưng kiểu đâu lại có cái luật lệ bắt con người ta phải giam hãm trong trường suốt cả thời gian rảnh rỗi để ngồi ngắm những cái bàn không bao giờ? [34, tr.53] và lâu dần một cậu ấm-thầy giáo đã: Trong thời gian đó tôi đã chán trường học. [34, tr.59] Cậu ấm bấm bụng chấp nhận vì tất cả giáo viên trong trường đều ngoan ngoãn chấp hành, không lẽ chỉ một mình mình chống lại. Chính vì tâm trạng bất mãn đó nên trong ngày trực trường, cậu ấm đã từ bỏ không gian bị ép buộc nhồi nhét vào để thư giãn ở không gian ưa thích: suối nước nóng dù biết hành động đó vi phạm nội quy. Những không gian gây cảm giác không an toàn cho Soseki đều mang tính chất hiện đại hóa, trái ngược với Mori Ogai luôn cảm thấy hài lòng và thích thú trước những đổi thay của văn minh hiện đại, thể hiện qua việc xây dựng những kiến trúc mới theo lối Tây phương: 83
86 Nhật Bản hãy còn chậm tiến. Em thấy không, đang trùng tu đầy ra kìa! Watanabe vừa phì phà điếu xì gà, đến mở cánh cửa sổ bên góc phòng có đặt chiếc xô-pha để ngắm phong cảnh bên ngoài. Ngay dưới của sổ, ông thấy rất nhiều thanh gỗ chất lên bên nhau. Đây mới đúng là mặt tiền khách sạn. Bên kia bờ con kênh đầy ắp nước và hầu như ngừng chảy là mấy ngôi nhà dân, có lẽ chỗ người ta dùng để hẹn hò. Trên đường không có bóng người, ngoại trừ một thiếu phụ đang địu con đứng lơ đãng trước cửa một trong những ngôi nhà ấy. Xa hơn nữa về phía tay mặt, ngôi dinh thự đồ sộ dùng làm Sở Tư Liệu của Bộ Hải Quân với màu gạch đỏ vươn cao lên choán hết tầm mắt. [69] Truyện ngắn không có cốt truyện nhưng vẫn rõ ràng ở hình ảnh một viên chức trong chính phủ khẳng định rằng Nhật Bản cần phải xây dựng nhiều hơn nữa mới theo kịp phương Tây Không gian an toàn Soseki luôn có những đề tài châm biếm người trí thức và không đâu thích hợp bằng không gian phòng sách. Những trí thức dưới ngòi bút của ông đều là những người ham mê sưu tầm những cuốn sách dù ít khi đọc tới, những kiến thức đọc được họ sử dụng để châm biếm người khác. Thế nhưng phòng sách mang lại cảm giác an toàn cho những nhân vật cá nhân của Soseki. Ông giáo Kushami là một điển hình gắn bó toàn bộ thời gian trong phòng sách: Cứ ở trường về là ông ta vào phòng sách, ở lì trong đó, hầu như chẳng bao giờ ra khỏi phòng. Những người trong nhà cho rằng ông ta là người học hành rất ghê. Bản thân ông ta cũng tỏ ra như vậy. Nhưng thực ra ông ta chẳng phải học hành gì như những người nhà tưởng. Thỉnh thoảng tôi có rón rén dòm vào trong phòng thì thấy ông ta hay ngủ trưa. Thỉnh thoảng ông ta còn để nước dãi chảy vào quyển sách đang đọc dở. [38, tr.12] Phòng sách không phải là nơi để nghiên cứu, học hành, đó là không gian nhỏ, khép kín, tĩnh lặng thích hợp cho những người như ông giáo Kushami: không thích bị làm phiền. Dù là một người giấu kín sự ham vui nhưng ông cảm thấy không thể rời phòng sách của mình, trí thức thì phải ở nơi chốn này. Phòng sách nhà ông giáo là nơi tụ họp của giới trí thức nhàn rỗi, là nơi ông giáo tìm đọc cuốn sách cổ nói xấu phụ nữ. Phòng sách là nơi chứng kiến toàn bộ tính cách, cuộc sống thường nhật và những biến động xung quanh nhân vật chính. Không phải ngẫu nhiên mà con mèo gọi nơi trú ngụ thường xuyên của ông giáo là động Ngọa long (hang rồng nằm), Phân tâm học coi hang (hang động) là nơi của quá 84
87 trình nội hóa tâm lý, là sự thâu nhậnvào mình những yếu tố của cộng đồng. Cũng chính vì thế, trong tính biện chứng giữa trong và ngoài, nội và ngoại, cá nhân và xã hội,... nó trở thành một cái chủ quan trong cuộc đối đầu với những vấn đề của sựphân hóa. Trong tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro), nhân vật Tiên sinh cũng chọn phòng sách làm nơi trú ẩn của mình, một người đọc nhiều, có bằng cấp nhưng chỉ quẩn quanh với căn phòng nhỏ, không giao lưu, không tiếp xúc, khép kín với niềm riêng. Tôi lắng nghe vợ Tiên sinh hé lộ về những nguyên nhân khiến chồng mình xa lánh cõi đời ngay trong phòng sách là chi tiết chủ ý, câu chuyện này ngay trong không gian này mới thể hiện đầy đủ sự phức tạp trong nội tâm con người. Thời gian du học ở Anh, Soseki đã chọn Tháp London, ngọn tháp chính là nơi ẩn náu của nhân vật chính, tránh xa thế giới bên ngoài quá nhiều lạ lẫm. Không gian ẩn náu của Cậu ấm là tâm tưởng, đó là vùng kỉ niệm về Kiyo, bà là biểu tượng của tình cảm gia đình nhưng không phải là mối quan hệ huyết thống, bà là biểu tượng của sự xưa cũ, những gì còn sót lại của một thời truyền thống đã tan vỡ. Có thể lý giải mối quan tâm đặc biệt của Cậu ấm đối với Bí Đỏ, bởi giữa những người xa lạ, đặc biệt là Áo Đỏ hợm hĩnh, đua đòi Âu hóa, Bí Đỏ thu hút bởi hình mẫu của người đàn ông truyền thống dịu dàng, hiền lành, anh vẫn tôn trọng vị hôn thê dù nàng phụ bạc, anh nhiệt tình tìm chỗ trọ cho đồng nghiệp mới và trên hết là thái độ nhẫn nhịn của anh trước cuộc đời. Bà Kiyo và Bí Đỏ là tinh hoa hiếm hoi của truyền thống Nhật Bản mà Cậu ấm cảm nhận được. Với chàng họa sĩ trong Gối đầu lên cỏ, không gian an toàn là nơi chốn tịch liêu, nơi chỉ có thiên nhiên và con người thoát tục. Nơi con người không còn cảm thấy cõi đời ô trọc, biến động. Khu suối nước nóng với những hình ảnh mờ ảo, thoáng ẩn thoáng hiện, nơi của nhịp sống chậm rãi là liệu pháp cho tâm hồn của con người. Không gian yên tĩnh là nơi chốn thích hợp để tịnh tâm nhưng vẫn phảng phất nỗi buồn nhân thế, cuộc đời đau khổ của nàng Nami hay ngày sắp ra trận của em họ Nami giúp họa sĩ nhận ra rằng không thể trốn chạy khỏi kiếp nhân sinh. Trong tiểu thuyết Cánh cổng (Mon) sáng tác trong giai đoạn viết văn chuyên nghiệp, chúng ta lại bắt gặp đúc kết này, tiểu thuyết như một câu chuyện Thiền về thế giới hàng ngày của nhân viên bán hàng khiêm tốn Sosuke và vợ ông-oyone, họ sống trong một ngôi nhà ở phía dưới một vách đá, tối tăm và yên tĩnh. Không gian đó tưởng chừng tĩnh lặng, yên bình nhưng ẩn chứa trong nó là nỗi đau khổ không có con, sự bất lực khi không thể lo cho cậu em trai vào đại học, đến một ngày Sosuke phải từ bỏ cuộc sống gia đình tĩnh lặng vì khủng hoảng tinh thần. 85
88 Phòng sách, chốn tịch liêu hay vùng tâm tưởng đều mang đặc tính của sự tĩnh lặng, cách biệt những biến động xã hội, giống như chàng họa sĩ: Tôi tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc của xã hội [37, tr.201], khi khó có thể hòa hợp thì những không gian này luôn là lựa chọn của những cá nhân u uất trước xã hội. Những phương thức nghệ thuật đặc tả nhân vật con người cá nhân được Soseki lựa chọn và trau dồi trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình. Với những tác phẩm giai đoạn đầu, những phương thức này còn trong thời kì sơ khai nhưng đã cho thấy vai trò đắc dụng của nó nhằm nhận chân Con người cá nhân (do những phương thức nghệ thuật này được xây dựng trên cơ sở tâm lý phức tạp của con người cá nhân trước xã hội.) 86
89 PHẦN KẾT LUẬN 1. Xã hội Nhật Bản không khuyến khích Con người cá nhân phát triển. Thuộc về nhóm và hành động theo nhóm là phương châm sống của người Nhật Bản. Trong văn học, tiếng nói nội tâm và cảm xúc cá nhân luôn nổi trội, vì vậy sự lưỡng lự giữa nhu cầu cá nhân (Ninjo) và nghĩa vụ trách nhiệm (Giri) luôn là mạch ngầm âm ỉ. Khi giao hòa với làn sóng văn minh phương Tây vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân, con người cá nhân Nhật Bản hoang mang, khao khát đi tìm tiếng nói của riêng mình. Vấn đề con người cá nhân với nhiều bất cập và chênh vênh trước ngưỡng cửa hiện đại hóa là đề tài xuyên suốt trong tác phẩm của Natsume Soseki. Bằng lập trường về xã hội và văn chương, kiểu nhân vật con người cá nhân trong sáng tác của Natsume Soseki là sự phản ánh sinh động nội tâm con người Nhật Bản trong thời đại Minh Trị. 2. Xuất phát từ tư tưởng Nhóm bền chặt của xã hội Nhật Bản, Natsume Soseki đã bàn về vấn đề con người cá nhân mâu thuẫn giữa ràng buộc và mong muốn tự do như thế nào. Ông mở rộng biên độ của khái niệm nhóm; phê phán sự gắn kết tạm bợ giữa các cá thể đưa đến sự cô đơn và lạc lõng của con người giữa xã hội; đề cao những mối quan hệ đồng cảm và an toàn để từ đó tạo lập nên những nhóm mới, có điều kiện cất lên tiếng nói cá nhân mạnh mẽ nhằm cảnh tỉnh những ung nhọt của con người và xã hội Nhật Bản bị mù quáng cuốn theo làn sóng hiện đại hóa. Nhưng đồng thời con người cá nhân cũng nỗ lực tìm kiếm sự bình tâm trước áp lực bên ngoài, như một chỗ dựa truyền thống vững chãi trước sự hối hả của hiện đại. Vì thế Con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki mang hai bản chất: Tiếng nói riêng giữa xã hội nhóm và tiếng nói cá tính trong nghệ thuật. 3. Bi kịch của con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki không chỉ dừng lại ở sự chối bỏ của nhóm mà sâu sắc hơn là sự đau đớn khi cá nhân tự mình tách ra khỏi nhóm để có thể nói tiếng nói của riêng mình. So với các tác giả cùng thời trong văn học Minh Trị-nền văn học bùng phát mạnh mẽ tiếng nói cá nhân, Soseki sử dụng ngôi kể thứ nhất trong hầu hết các tác phẩm của ông. Ở giai đoạn đầu sáng tác, ngôi kể Tôi với giọng điệu đả kích, châm biếm, hóm hỉnh đã thoải mái bày tỏ quan điểm cá nhân của mình với tham vọng thâu tóm tất cả, khám phá tất cả nhưng đồng thời không muốn người khác khám phá mình. Để tạo sự đồng thuận và hợp lệ, các nhân vật của Soseki phát ngôn chính kiến trong nhóm nhất 87
90 định, đó là sự xuất hiện của những nhân vật Cặp đôi. Những không gian đặc thù gắn liền với nhân vật là chìa khóa để khám phá bản chất con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki. 4. Để vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki có cái nhìm toàn diện, sâu sắc hơn cần mở rộng phạm vi khảo sát ở toàn bộ văn nghiệp của ông mới thấy được sự phát triển của ý thức con người cá nhân, mới hiểu được hệ quả của nó trong một quá trình ở cả diện rộng và sâu. Trong so sánh với các nhà văn cùng thời, với hướng nghiên cứu mở rộng hơn chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề Con người cá nhân trong văn học thời Duy Tân. 88
91 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Nguyễn Thị Lam Anh (2010), Futabatei Shimei và tiểu thuyết mới đầu tiên: Ukigumo, Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học, (7). 2. Nguyễn Thanh Bình (2007) Thử bàn về cuộc Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản và Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc, Tạp chí Nghiên Cứu Đông Bắc Á,(6). 3. Lê Nguyên Cẩn (2003), Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỷ XVIII, Tạp chí văn học, (3). 4. Nhật Chiêu (1998), Thơ ca Nhật Bản, Nxb Giáo Dục. 5. Nhật Chiêu (2009), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nxb Giáo Dục. 6. Saxe Commins, Robert N. Linscott; (Nguyễn Kim Dân biên dịch) (2005), Mối quan hệ giữa người với người: Những triết gia xã hội học, Nxb Văn hóa Thông tin. 7. Đào Đức Doãn (2006), Con người cá nhân - nhân tố nội tại chi phối sự ra đời của tiểu thuyết tâm lý Việt Nam đầu thế kỷ XX, Tạp chí khoa học- ĐH Sư Phạm Hà Nội, (3). 8. Takeo Doi (2008), Giải phẫu cái tự ngã, Nxb Tri Thức. 9. Takeo Doi (2008), Giải phẫu sự phụ thuộc, Nxb Tri Thức. 10. Dương Ngọc Dũng (2008), Chuyên luận Nhật Bản Học, Nxb Tổng Hợp TPHCM. 11. Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam, Trần Văn Bính (1976), Cơ sở lý luận văn học. Tập 3: Thể loại văn học, Nxb Giáo Dục. 12. Sueki Fumihiko (Phạm Thu Giang dịch) (2011), Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Nxb Thế giới. 13. Đoàn Lê Giang (2010) Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán (qua tư liệu Việt Nam và Nhật Bản), Hội thảo quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán:Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. 14. Khương Việt Hà (2005), Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX, Tạp chí nghiên cứu văn học, (8). 15. Dương Thu Hằng (2010), Học - một giải pháp của hiện đại và văn minh, nhìn từ Khuyến học của Fukuzawa Yukichi và Văn minh tân học sách của phong trào 89
92 duy tân Việt Nam, Hội thảo quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán:Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên) (2007), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Thế Giới. 17. Đỗ Vạn Hỷ, Lý Hoàn Thục Trâm (2010), Sơ lược tiếp cận thang giá trị mới trong văn học Nhật Bản thời Minh Trị Duy Tân, Hội thảo quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc 18. Nguyễn Tuấn Khanh (2007), Khái quát một trăm năm văn học Nhật bản hiện đại qua những cây bút kiệt xuất, Tạp chí Nghiên Cứu Đông Bắc, (9). 19. Nguyễn Tuấn Khanh (2011), Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại, Nxb Khoa Học Xã Hội. 20. N.I.Konrat, Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, Nxb Đà Nẵng. 21. N.I.Konrat (2007), Phương Đông Học, Nxb Văn Học. 22. Ôn Thị Mỹ Linh (2008), Trạng thái hiện sinh của con người trong tiểu thuyết Một nỗi đau riêng, Tạp chí Nghiên Cứu Đông Bắc Á, (8). 23. Phương Lựu (1998), Mười trường phái lý luận văn học phương Tây đương đại, Nxb Giáo dục. 24. Numano Mitsuyoshi (2009) Văn học Nhật Bản: lịch sử và đặc trưng Từ mononoaware đến kawaii, Hội thảo Văn học Nhật Bản. 25. Michio Morishima (1991), Tại sao Nhật Bản Thành công? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội. 26. Muju (Nguyên Minh dịch) (2012), Gõ cửa thiền, Nxb Văn Hóa Thông Tin. 27. Tường Nhi (2006), Cái tôi trong mỗi con người, Tạp chí văn hóaphật Giáo, (23). 28. Edwin O.Reischauer (1994), Nhật Bản quá khứ và hiện tại, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội. 29. Vơxevôlốt Ôvơchinnhikốp (1987), Cành Sakura, Nxb Mũi Cà mau. 30. Nguyễn Dương Đỗ Quyên (2004), Chất thị dân của hài kịch Rakugo, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (241). 31. George Sansom (1994), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội. 32. Paul G.Schalow (2010) Lý thuyết hóa phái tính/giới tính ở Nhật Bản thờicận đại:hoa trinh nữ và Đỗ quyên của Kitamura Kigin, Tạp chí nghiên cứu văn học, (10). 33. Vĩnh Sính (1991), Nhật Bản cận đại, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh 90
93 34. Natsume Soseki (Bùi Thị Loan dịch) (2006), Cậu ấm ngây thơ, Nxb Hội Nhà Văn. 35. Natsume Soseki (Hồng Ngọc, Thanh Dung dịch) (2011), Cuộc nổi loạn ngoạn mục, Nxb Trẻ. 36. Natsume Soseki (Đỗ Khánh Hoan-Nguyễn Tường Minh dịch) (2011), Nỗi lòng, Nxb Hội Nhà Văn. 37. Natsume Soseki (Lam Anh dịch) (2012), Gối đầu lên cỏ, Nxb Hội Nhà Văn. 38. Natsume Soseki (Bùi Thị Loan dịch) (2012), Tôi là con mèo, Nxb Hội Nhà Văn. 39. D.R.Suzuki, Erich Fromm, R.De Martino (Nguyễn Kim Dân dịch) (2011), Thiền và Phân tâm học, Nxb Thời Đại. 40. Sakaiya Taichi (2004), Mười hai người lập ra nước Nhật, Nxb Chính Trị Quốc Gia. 41. Chương Thâu (2007), Đông Kinh nghĩa thục và phong trào nghĩa thục ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số Lưu Thị Thu Thúy (2007), Thực trạng nghiên cứu Nhật Bản ở Hàn Quốc cho đến đầu thế kỉ XXI, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số Nguyễn Nam Trân (2011), Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, Nxb Giáo Dục Việt Nam. 44. Liễu Trương (2011), Phân tâm học và phê bình văn học, Nxb Phụ Nữ. 45. Nguyễn Thị Thanh Xuân (chủ biên) (2008), Văn học Nhật Bản ở Việt Nam, Nxb Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. 46. Truyện ngắn Nhật Bản hiện đại (1986), NXB Tác Phẩm Mới Hội Nhà Văn Việt Nam. Tiếng Anh 47. Michael K. Bourdaghs, Atsuko Ueda & Joseph A. Murphy, eds.(2009), Theory of Literature and Other Critical Writings: Natsume Sōseki, Columbia UniversityPress. 48. James A.Fujii (1993), Complicit Fictions: The Subject in the Modern Japanese Prove Narrative, University of California Press. 49. Koji Nakamura (2012), Soseki s Kokoro as Cross-Cultural Studies for Exchange Students from North America and Europe, The Journal of the Institute for Language and Culture, Konan University. Vol.16, (pp.1-49). 50. Steve Odin (2001), Artistic detachment in Japan and the west: Psychic Distance in Comparative Aesthetic, University of Hawai Press. 91
94 51. Sumie Okada (2003), Japanese writes and the west, Palgarave Macmillan Newyork. 52. William N. Ridgeway (2002), Gender, the body, and desire in the novels of Natsume Soseki ( ), focusing on Meian, University of Hawaii at Manoa. 53. J.Thomas Rimer and Van.C.Gessei (1893), Modern Japanese Literature, Columbia Vpress. 54. Natsume Sōseki (2011), Nowaki, trans. William N. Ridgeway, Center for Japanese Studies The University of Michigan. 55. Kimura Steven, (1993), A study of Natsume Sōseki's novel Sanshirō, University of Canterbury. 56. Makoto Ueda (1976), Modern Japanese writers and the Nature of literature, Stanford Univesity Press. 57. Angela Yiu (1998), Chaos and Order in the works of Natsume Soseki, University of Hawaii Press. 58. Personal writings of Natsume Soseki, University of Hawai s Press. Trang web tiếng Việt 59. Nguyễn Đình Chú, Từ công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam nghĩ thêm đôi điều về sự tương đồng và tương dị giữa Việt Nam và Nhật Bản chung quanh vấn đề hiện đại hoá văn học, (Ngày truy cập ) e&id=982:t-cong-cuc-hin-i-hoa-vn-hc-vit-nam-ngh-them-oi-iu-v-s-tng-ng-va-tng-dgia-vit-nam-va-nht-bn-chung-quanh-vn-hin-i-hoa-vn-hc&catid=85:hi-tho-qua-trinhhin-i-hoa-vn-hc&itemid= Trần Thanh Đạm, Độc lập và duy tân (Kinh nghiệm Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam) (Ngày truy cập ) Đoàn Lê Giang, Văn hoá truyền thống và sự phát triển qua cái nhìn so sánh văn hoá Nhật - Việt (Ngày truy cập ) 92
95 e&id=1666:vn-hoa-truyn-thng-va-s-phat-trin-qua-cai-nhin-so-sanh-vn-hoa-nhtvit&catid=100:vn-hoa-lch-s-trit-hc&itemid= Nguyễn Kiến Giang, Có những quan niệm về con người cá nhân ở phương Đông không? (Ngày truy cập ) Oe Kenzaburo, Về nền văn học Nhật Bản cận đại và hiện đại, (Ngày truy cập ) e&id=569:v-nn-vn-hc-nht-bn-cn-i-va-hin-i&catid=64:vn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-sosanh&itemid= Ngô Hương Lan, Toàn cầu hóa và vấn đề văn hóa truyền thống ở Nhật Bản,(Ngàytruycập ) Ngô Hương Lan, Vài nét về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản (Ngày truy cập ) Nguyễn Tiến Lực, Về cách thức tiếp nhận văn minh bên ngoài của Nhật Bản, (Ngày truy cập ) e&id=1330:v-cach-thc-tip-nhn-vn-minh-ben-ngoai-ca-nht-bn&catid=100:vn-hoa-lchs-trit-hc&itemid= Mori Ogai, Nguyễn Nam Trân dịch, Thuyền giải tù (Takasebune), (Ngày truy cập) 18/12/2012), Mori Ogai, Nguyễn Nam Trân dịch, Hanako, (Ngày truy cập 18/12/2012) Mori Ogai, Nguyễn Nam Trân dịch, Đang trùng tu (Fusinchuu), (Ngày truy cập 18/12/ Hồ Sĩ Quý, Vấn đề giá trị quan châu Á: Nghiên cứu so sánh châu Á và phương Tây (Ngày truy cập ) 93
96 71. Suzuki Setsuko (chủ biên), Linh hồn Nhật Bản 英語で話す日本の心 / Keys to the Japanese Heart and Soul, Hoàng Long dịch, (Ngày truy cập ) kid= Mitsuhiro Tokunaga, Sự hình thành các sáng tác của Natsume Soseki-Nhìn từ quá trình ra đời của tiểu thuyết cận đại, Lam Anh dịch, (Ngày truy cập ) e&id=965:s-hinh-thanh-cac-sang-tac-ca-natsume-soseki-nhin-t-qua-trinh-ra-i-ca-tiuthuyt-cn-i&catid=85:hi-tho-qua-trinh-hin-i-hoa-vn-hc&itemid= Bùi Bích Thuận, Đặc điểm văn hóa Nhật Bản (Ngày truy cập ) Lê Ngọc Thúy, Hình tượng «Đông Á bệnh phu» trong văn học duy tân Đông Á, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Ngày truy cập ) article&id=2747%3ahinh-tng-l-ong-a-bnh-phu-r-trong-vn-hc-duy-tan-ong-a-vit-namcui-th-k-xix-u-th-k-xx&catid=64%3avn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-sosanh&itemid=108&lang=vi 75. Tsuboi Yoshiharu (Đoàn Lê Giang dịch) (1992) Nho giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam (Ngày truy cập ) e&id=3112%3anho-giao-trung-quc-nht-bn-han-quc-va-vit-nam&catid=100%3avnhoa-lch-s-trit-hc&itemid=161&lang=vi Trang web nước ngoài 76. Michael Hoffman, Mining a literary treasure Japantimes.co.jp) (Ngày truy cập ) 94
97 77. Naito Mariko, Rethinking the Dichotomybetween the Religious and the Secular:The Emergence of Religion in Modern Japan, ( ) 78. Eiko Takamizawa, Group orientation in Japan: Analysis and application to missions (Ngày truy cập ) Soseki's Meeting and Exchange with Shiki Masaoka, (Tohoku University Library) (28/12/2012) 80. damianflanagan.com/djflan_e_publ.html 95
Microsoft Word - DAI THUA 100 PHAP _hoan chinh_.doc
Sáng tác: Bồ tát Thiên Thân Hán dịch: Pháp sư: Huyền Tráng Soạn thuật: Cư sĩ: Giản Kim Võ Việt dịch: Cư sĩ: Lê Hồng Sơn LUẬN ĐẠI THỪA 100 PHÁP Phật Lịch: 2557 - DL.2013 Luận Đại Thừa 100 Pháp 1 Việt dịch:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ĐÀO DUY TÙNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: LUẬ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH --------------- Đào Duy Tùng TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC TP. HỒ CHÍ MINH 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
語彙リスト_ベトナム語(10Q).indd
C A S E 0 1 IT doanh nghiệp IT làm việc tại - làm việc tại - khá vất vả những việc như thế này cấp trên, sếp bị - cho gọi dữ liệu đơn hàng xử lý - trả lời trở về chỗ như thường lệ đi đi lại lại, đi tới
Microsoft Word - NhanGianDuKi-ISO-A5.doc
THÁNH HIỀN ĐƯỜNG NHÂN GIAN DU KÍ 人間遊記 Dịch Giả Đào Mộng Nam PUBLISHED BY VO VI MULTIMEDIA COMMUNICATION Cover Designed by AT Graphics Copyright 1984, 2006 by VO VI MULTIMEDIA COMMUNICATION website: http://www.vovi.org
平成25年度全国学力・学習状況調査:保護者に対する調査(小学校調査票)ベトナム語版
MEXT Bộ giáo dục và khoa học Khảo sát tình hình học tập - học lực toàn quốc năm 2013 (Bảng khảo sát chi tiết) Bảng khảo sát dành cho phụ huynh Khảo sát này là một phần trong kế hoạch Khảo sát tình hình
bộ khẩu tức là cái miệng. Cái miệng con người phát ngôn ra lời nói nhanh như mũi tên và mũi tên ấy sẽ mang đến cho chúng ta cả điều lợi lẫn điều hại;
Mùa Cây Trái Thích Như Điển Đức Phật thường dạy rằng: nhân nào quả đó ; gieo gió gặt bão ; nhân thiện quả thiện, nhân ác quả ác ; hoặc ông bà mình cũng có câu tục ngữ: ăn cây nào rào cây ấy ; ăn quả nhớ
労災保険外国人向けパンフ第二編_ベトナム語
[ Cho người nước ngoài làm việc tại Nhật Bản] ベトナム語版 Sách hướng dẫn để yêu cầu bảo hiểm tai nạn lao động Khái quắt về trợ cấp bảo hiểm tai nạn lao động Nội dung của trợ cấp bảo hiểm các loại
Contents
3.7 Quy hoạch Định hướng TOD ở cụm đô thị phía nam 3.7.1 Hướng tiếp cận 1) Đặc điểm của cụm (a) Tổng quan 3.249 Cụm đô thị phía nam gồm phần đông nam của quận Đống Đa, phía tây quận Hai Bà Trưng, phía
KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG HẬU TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU-MA-LA-THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN Việt dịch và chú giải NGUYỄN MINH H
KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG HẬU TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU-MA-LA-THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN Việt dịch và chú giải NGUYỄN MINH HIỂN hiệu đính Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty
2
www.pwc.com/vn Sổ tay thuế Việt Nam 2017 2 Mục Lục Hệ Thống Thuế 6 Tổng quan Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp ( TNDN ) Thuế suất Ưu đãi thuế TNDN Xác định thu nhập chịu thuế TNDN Các khoản chi không được trừ
Mục lục Lời mở đầu 1 1 Ba loại tai nạn lao động thường xảy ra trong khi hàn 2 2 Những công việc nhiều tai nạn gây tử vong 2 3 Tai họa và các nghi vấn
Dành cho thực tập sinh kỹ năng Bước đầu tiên để thực tập sinh kỹ năng thực hiện công việc hàn an toàn Mục lục Lời mở đầu 1 1 Ba loại tai nạn lao động thường xảy ra trong khi hàn 2 2 Những công việc nhiều
PTB TV 2018 ver 8
Sổ tay thuế Việt Nam 2018 www.pwc.com/vn 2 Mục Lục Hệ Thống Thuế Tổng quan Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp ( TNDN ) Thuế suất Ưu đãi thuế TNDN Xác định thu nhập chịu thuế TNDN Các khoản chi không được trừ và
Heike monogatari là một truyện kể xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII, kể lại cuộc xung đột giữa hai dòng họ có thế lực là họ Taira và họ Minamoto. Xét v
GENJI MONOGATARI CỦA MURASAKI SHIKIBU: NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TÍNH LỊCH SỬ VỀ MẶT THỂ LOẠI Nguyễn Thị Lam Anh* * ThS., Bộ môn Nhật Bản học Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG TPHCM 1. Khái niệm monogatari và tác phẩm
[PDF] SỔ TAY HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN QUỐC TẾ
SỔ TAY HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN QUỐC TẾ mục lục Những chú ý khi đăng ký Hướng dẫn các nội dung quan trọng 3 Tổng quan về sản phẩm Hướng dẫn sử dụng ATM 5 7 Phí dịch vụ và Các thắc mắc Ứng
HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 CÁM ƠN Ý TƯỞNG VÀ BÀI VỞ CỦA ANH CHỊ CỰU SINH VIÊN ĐHSP HUẾ 2 KHÓA LƯƠNG VĂN CAN VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG. CÁM ƠN TRANG BLOG ANH TRẦN
HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 CÁM ƠN Ý TƯỞNG VÀ BÀI VỞ CỦA ANH CHỊ CỰU SINH VIÊN ĐHSP HUẾ 2 KHÓA LƯƠNG VĂN CAN VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG. CÁM ƠN TRANG BLOG ANH TRẦN DƯ SINH CHỦ TRÌ LÀ CẦU NỐI THÔNG
日本留学試験の手引き_ベトナム語版
Kỳ thi Du học Nhật Bản (EJU) và Thủ tục ~ Cho phép Nhập học trước khi đến Nhật bằng cách sử dụng EJU ~ Mục lục Lời nói đầu...03 Phương pháp tuyển chọn lưu học sinh...04 Kỳ thi Du học Nhật Bản(EJU)...05
CUỘC CÁCH MẠNG MỘT-CỌNG-RƠM MASANOBU FUKUOKA (Bản sách điện tử lần thứ nhất) Biên dịch: XanhShop Lời giới thiệu và hiệu đính: Hoàng Hải Vân Lời giới t
CUỘC CÁCH MẠNG MỘT-CỌNG-RƠM MASANOBU FUKUOKA (Bản sách điện tử lần thứ nhất) Biên dịch: XanhShop Lời giới thiệu và hiệu đính: Hoàng Hải Vân Lời giới thiệu cho lần tái bản thứ nhất: Dịch giả Phương Huyên
THÔNG SỐ KỸ THUẬT BẢN VẼ LẮP ĐẶT Sản phẩm Tối thiểu Áp lực sử dụng (động) Tối đa (tĩnh) Nhiệt độ sử dụng Chất lượng nước sử dụng Vùng thường Nhiệt độ
03G40SR 2015.10 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẮP ĐẶT SEN TẮM ĐIỀU NHIỆT NÓNG LẠNH Sê ri TMGG40 (TMGG40E/ TMGG40E3/ TMGG40LE/ TMGG40LLE/ TMGG40LEW/ TMGG40LJ/ TMGG40SE/ TMGG40SECR/ TMGG40SEW/ TMGG40SJ/ TMGG40QE/ TMGG40QJ/
Mùa Khô
tinhyeutraiviet.com - Tuyển tập 2011 2 Ngày ấy - Bây giờ Lời bạt Như một món quà nhỏ trao tặng đến người bạn thân, Tuyển tập chọn lọc từ cuộc thi viết truyện ngắn lần thứ năm 2011 của Diễn đàn tinhyeutraiviet.com
労災保険外国人むけパンフ第一編_ベトナム語i
[Dành cho người nước ngoài làm việc tại Nhật Bản] ベトナム語版 Sách hướng dẫn để yêu cầu bảo hiểm tai nạn lao động Về đối tượng có thể yêu cầu(làm đơn xin) nhận trợ cấp bảo hiểm Bảo hiểm tai nạn lao
意識_ベトナム.indd
Phiê u điê u tra kha o sa t nhâ n thư c cu a cư dân ngươ i nươ c ngoa i ta i tha nh phô Sakai Tha nh phô Sakai hiê n đang thu c đâ y viê c xây dư ng tha nh phô trơ tha nh mô t nơi dê sinh sô ng, an toa
1.Khóa tuyển sinh Số học viên Khóa tuyển sinh Thời gian nhập học Số học viên Khoa tiếng nhật Khóa học 1 năm Khoá học 2 năm Tháng 4 40 người (20 người
Khoa tiếng Nhật H I R O S H I M A F U K U S H I S E N M O N G A K K O Trường Điều Dưỡng Phúc Lợi Xã Hội Hiroshima 1.Khóa tuyển sinh Số học viên Khóa tuyển sinh Thời gian nhập học Số học viên Khoa tiếng
Khái quát cấu trúc Hệ thống Kiểm soát Tổng tải lượng Ô nhiễm (TPLCS) Chương 1 Tính cần thiết của TPLCS 1.1 Tổng quan về TPLCS Ô nhiễm nước xảy ra khi
Hướng dẫn áp dụng Hệ thống Kiểm soát Tổng tải lượng Ô nhiễm (TPLCS) Tháng 4/2011 Văn phòng Quản lý Môi trường các Vùng ven biển Khép kín Bộ phận Môi trường Nước Cục Quản lý Môi trường Bộ Môi trường Nhật
La-hán Ba Tiêu Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài tr
SỰ TÍCH THẬP BÁT LA HÁN LỜI ĐẦU SÁCH Thập Bát La Hán tượng trưng cho tín ngưỡng đặc thù dân gian. Cuộc đời của các Ngài siêu nhiên kỳ bí nhưng rất mực gần gũi chúng sanh. Tranh tượng Bồ-tát trình bày một
Tài chính Quan hệ Cộng đồng Quản trị căn bản Pháp lý Các loại rủi ro Dự án Tình hình Tài chính Mục tiêu công ty Giá cả Môi trường - Tử vong - Thương t
Giảng viên: Trần Quang Trung Mục tiêu môn học Kết thúc chương trình này người học có thể: Lưu ý nhiều hơn các vấn đề có yếu tố rủi ro Nhận biết và phân loại các rủi ro của đơn vị Áp dụng một số kỹ thuật
W06_viet01
Tiếng Việt 10 điểm cần thiết cho sự an toàn và vui tươi trong học tập tại trường cấp 1 đối với học sinh và phụ huynh người ngoại quốc. Hướng đến việc nhập học trường cấp 1 Hãy xác định lịch trình cho đến
phihungn_ThaiBinhDiaNhanSuLuoc
Thái Bình địa nhân sử lược Thái Bình là dân ăn chơi Tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành Tung hoành đến tận trời xanh Ngọc hoàng liền hỏi quý anh huyện nào Nam tào Bắc đẩu xông vào Thái Bình anh ở phủ nào
có 5 hay 7 âm tiết xen kẽ nhau, có thể chia làm hai phần: Thượng cú (kami no ku) Câu 1: 5 âm, Câu 2: 7 âm, Câu 3: 5 âm (5-7-5) Hạ cú (shimo no ku) Câu
Thơ với Thẩn Sao Khuê Reng reng - Sao? Bà bắt tôi thưởng thức cái mà bà bảo là dịch thoát ý thơ Haiku đây ấy à. Trời đất! hết bày đặt làm thơ yết hầu - Cái ông này! Yết hầu đâu mà yết hầu, thơ yết hậu!
Bia 1_VHPG_268_17.indd
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1-3 - 2017 Phật lịch 2560 Số 268 Đa dạng tôn giáo Tr. 12 mang theo Tr. 36 Tr. 14 CÔNG TY TNHH TM-XD AN PHÚ THÀNH 281/25/11 Lê Văn Sĩ, phường 1, quận Tân Bình, TP.HCM ĐT: (08)
Student Guide to Japan (Vietnamese Version)
2017-2018 HƯỚNG DẪN DU HỌC NHẬT BẢN Bản tiếng Việt SỨC HẤP DẪN CỦA DU HỌC NHẬT BẢN Chương trình đào tạo chất lượng cao, hấp dẫn Những năm gần đây, có rất nhiều nhà khoa học Nhật Bản nhận được giải thưởng
ĐVT: tấn STT Khối lượng Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2008 CTR CTR Công nghiệp 1.991, , , , ,747
7. ダナン市の資料 CÂU HỎI GỬI ĐẾN THÀNH PHỐ VÀ CÁC TỈNH I. Các nội dung liên quan đến Sở Y tế: Một số thông tin liên quan xử lý chất thải y tế của thành phố Đà Nẵng Câu hỏi 1: Số bệnh viện Hiện nay trên địa bàn
Quả bưởi có nhiều múi, mỗi trái được trung bình khoảng 12 múi. Phân tích 100 gam dịch quả bưởi chín, thu được 89 gam nước, 9 gam glucid, 0,6 gam proti
Cuối Năm Ăn Bưởi Phanxipăng Đầu năm ăn quả thanh yên, Cuối năm ăn bưởi cho nên... đèo bòng. Ca dao Việt Đông chí. Từ thời điểm này, trái cây ở nhiều miệt vườn tới tấp dồn về phố chợ, tràn xuống cả lòng
Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị thay đổi, sửa chữa những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi e
ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH Khảo Luận XÂY BÀN & CƠ BÚT TRONG ĐẠO CAO ĐÀI Biên Soạn Ấn bản năm Ất Dậu 2005 Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info.
ĐẠI CHIẾN ĐÔNG NAM Á 1971 Trong Đặc San Canh Dần của ERCT, sempai Lê Văn Phụng có viết bài "Tuổi Học Trò". Trong bài nầy anh kể lại chuyện đánh nhau v
ĐỜI SỐNG CƯ XÁ KOKUSAI 1971-1975 Ghi lại bởi Đặng Hữu Thạnh Exryu '71 Waseda Xin gửi đến Ban Chấp Hành Hội Sinh Viên Việt Nam và Ban Thương Lượng. Sự hi sinh không màn nguy hiểm và sự hướng dẫn của quý
Làm thế nào người Nhậtđã thành công trong các ngành công nghiệp? 1. Định hướng khách hàng 2. Quan niệm về năng suất 3. Thực hành nhữngđiều cơ bản nhất
Năng suất và 5S Bí mật sự thành công tại Nhật bản 10/11/2006 Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm T11/2006 Chuyên gia JICA, VJCC Hà Nội 1 Làm thế nào người Nhậtđã thành công trong các ngành công nghiệp? 1. Định
H˜C VI°N MÁY TÍNH KYOTO
HỌC VIỆN MÁY TÍNH KYOTO (KCG : Kyoto Computer Gakuin) Chương trình Đào tạo HỌC VIỆN MÁY TÍNH KYOTO Tư Vấn Tuyển Sinh 10-5, Nishikujyoteranomae-cho, Minami-ku, Kyoto-shi, Kyoto 601-8407 Japan URL : http://www.kcg.ac.jp/
2 Những sách nghiên cứu... Xem thêm : Để làm tài liệu cho quý vị nào quan tâm muốn tìm hiểu thêm, chúng tôi có soạn một tập riêng gồm danh sách những
1 Nước Nhựt Bổn - 30 năm Duy Tân Đào Trinh Nhất - xuất bản năm 1936 Tiểu sử Cụ Đào Trinh Nhất Vài hàng giải thích của bản điện tử Thông tin mới nhất về gia đình Cụ Đào Trinh Nhất và ERCT Mục Lục Vài Lời
Lịch của toàn khi vực Ngày nghỉ lễ rác vẫn Xin vui lòng chấp hành Xin vui lòng vứt rác tại địa điểm và ngày đã được qui định trước 8:30 buổi sáng! Vứt
Cách vứt tài nguyên và rác đúng cách Hướng dẫn cách vứt rác gia đình Xin vui lòng chấp hành Xin vui lòng phân loại tài nguyên và rác Phân loại rác bao gồm 5 loại 1. 2. 3. 4. 5. Xin vui lòng vứt rác tài
<4D F736F F D208EC08F4B90B6834B E CEA816A2D8D5A90B38DCF2E646F63>
SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP KỸ NĂNG DÀNH CHO THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG Tổ chức Hợp tác Tu nghiệp Quốc tế LỜI GIỚI THIỆU Chế độ thực tập kỹ năng của Nhật Bản là chế độ tiếp nhận người lao động nước ngoài từ 16
外国人生徒のための公民(ベトナム語版)
Chương 1 Xã hội hiện tại Khu vực xã hội (1)NGO(Tổ chức phi chính phủ) 1 (2)ODA (Viện trợ phát triển chính phủ) 2 (3)ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) 3 (4)APEC (hội nghị hợp tác kinh tế Châu Á-Thái
Mục lục Khi nào thì bắt đầu cho bé ăn dặm?... 1 Cức giai đoạn ăn dặm... 1 Đ thô ộà đ mềm c a th c ăn... 2 Th i gian cho bé ăn dặm trong ngày... 4 Bắt
ĔNăD M KI U NHẬT Ths. ĐàoăThị Mỹ Khanh Osaka, thứng 12 năm 2008 (Cập nhật ngày 14 thứng 10 năm 2013) Mục lục Khi nào thì bắt đầu cho bé ăn dặm?... 1 Cức giai đoạn ăn dặm... 1 Đ thô ộà đ mềm c a th c ăn...
00
NGHIỆP ĐOÀN KANTO TRANG THÔNG TIN Số 69 - THÁNG 3 NĂM 2016 Trong số này Lời chào từ Nghiệp đoàn Giới thiệu Thực tập sinh có thành tích học tập cao nhất khóa 133 Hướng dẫn về cuộc thi viết văn lần thứ 24
施策の概要 就学ガイドブック [ヴェトナム語]
ヴェトナム語版 THAÙNG 4 NAÊM 2005 BOÄ KHOA HOÏC GIAÙO DUÏC 1. GIAÙO DUÏC HOÏC ÑÖÔØNG TAÏI NHAÄT BAÛN 3 2. THUÛ TUÏC NHAÄP HOÏC 13 3. SINH HOAÏT HOÏC ÑÖÔØNG 19 4. TRAO ÑOÅI VEÀ GIAÙO DUÏC 31 1 2 1. GIAÙO DUÏC
CHƯƠNG TRÌNH Lời chào từ Ban tổ chức Hướng dẫn Học thi Trung Học Phổ Thông Nghỉ giải lao Trả lời câu hỏi Kinh nghiệm học thi từ Sinh viên đã tốt nghiệ
Bản tiếng Việt HƯỚNG DẪN HỌC THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Tài liệu thuộc tỉnh Tochigi 2014 BẰNG NHIỀU NGÔN NGỮ Vietnam ภาษาไทย English Filipino ا ردو ESPAÑOL Português 汉语 Đây là tài liệu được làm dựa trên dữ
untitled
ベトナム語 Vui đ n trư ng ~ Sách hư ng d n v h c đư ng dành cho ph huynh và h c sinh ngư i ngo i qu c ~ y Ban Giáo D c Th Xã Yamato 4 l i ngõ Quy n s tay dành cho các h c sinh và quš phø huynh Khi b t ÇÀu vào
NGUYỆT SAN CỎ THƠM ONLINE SỐ 12 THÁNG 11, 2018 MỤC LỤC BIÊN KHẢO: TR12- KIM THÚY, NHÀ VĂN NỮ GỐC VIỆT NỔI TIẾNG Ở CANADA - PHẠM VĂN TUẤN TR34 TƯỞNG NH
Thu Sang Tranh của Thanh Trí, Sacramento USA NGUYỆT SAN CỎ THƠM ONLINE SỐ 12 THÁNG 11, 2018 MỤC LỤC BIÊN KHẢO: TR12- KIM THÚY, NHÀ VĂN NỮ GỐC VIỆT NỔI TIẾNG Ở CANADA - PHẠM VĂN TUẤN TR34 TƯỞNG NHỚ NHẠC
Văn hóa-lịch sử Huế qua góc nhìn làng xã phụ cận LỊCH SỬ DI CƯ VÀ NGHI LỄ THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA CÁC DÒNG HỌ GỐC HOA Ở HƯƠNG VINH (The history of
Title LỊCH SỬ DI CƯ VÀ NGHI LỄ THỜ CÚNG N CỦA CÁC DÒNG HỌ GỐC HOA Ở HƯƠNG Author(s) KIMURA, Mizuka CULTURE AND HISTORY OF HUE FROM T Citation VILLAGES AND OUTSIDE REGIONS: 89- Issue Date 2010-03-26 URL
-HT Hộ Tông -HT Hộ Nhẫn Cùng các Bậc Trưởng Lão PGNT
GIẢNG GIẢI KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN -HT Hộ Tông -HT Hộ Nhẫn Cùng các Bậc Trưởng Lão PGNT Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (Thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri.)
Mục lục 1. Trình tự cho đến khi có thể thực hiện thiết kế CAD 1 2. Thao tác cơ bản 5 3. Thiết kế bệ đỡ Cách xuất ra định dạng stl và cách sử dụn
Tài liệu hướng dẫn thao tác in 3DCAD&3D sử dụng FreeCAD (ver.0.17) Manufacturing Human Resource Development Program in Ha Nam Province, Vietnam 1. Aug. 2018 Kobe City College of Technology, Waseda Lab.
Microsoft Word - Thuc don an dam cho be 5-15 thang.doc
THỰC ĐƠN ĂN DẶM KIỂU NHẬT 5-6 tháng Muối không tốt cho thận của bé, vì vậy giai đoạn này không cần nêm muối. Lượng muối cho bé bằng 1/4 lượng muối cho người lớn. Đối với bé ở giai đoạn này, vị nước dashi
MergedFile
この シンチャオ先生 と次の 生徒にインタビュー のコーナーでは 日本語を教えるベトナム人教師とその生徒であるベトナム 人学習者の双方にお話を伺い 同じ学びの場において立場の異なる視点から感じたことや経験について記事を掲載しています 今号のインタビューに答えてくださったのは 国際交流基金ベトナム日本文化交流センターの HA THI THU HIEN 先生です 日本語を学び始めたのはいつからで これまでどのぐ
(Microsoft Word - Chuong tr\354nh H\340nh Huong Nh?t B?n docx)
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH HƯƠNG NHẬT BẢN MÙA THU 10-2016 (PHẦN 2: MÙA THU LÁ ĐỎ) Nói đến cảnh đẹp của Nhật Bản, không ai không nhắc đến cảm giác đi thưởng ngoạn cảnh sắc mùa lá Phong đỏ ở đây. Mỗi năm cứ đến tháng
Bento Thiện pp. John K. Whitmore, Chung-hsing and Cheng-t ung in Text of and on Sixteenth-Century Viet Nam. In Keith Taylor and John K. Whitmore, eds.
Bento Thiện pp. John K. Whitmore, Chung-hsing and Cheng-tung in Text of and on Sixteenth-Century Viet Nam. In Keith Taylor and John K. Whitmore, eds. Essays into Vietnamese Pasts. Ithaca, New York: Southeast
< F312D30335F834F E696E6464>
Handicraft industry in Thưa Thiên Huế from 1306 to 1945 NGUYỄN Văn Đăng HI NE ISHIMURA Bồ Ô Lâu Hương Trà Quảng Bình Thưa Thiên Huế Bằng Lãng Tam Giang Thuận Hóa Thanh Hà Bao Vinh Phú Xuân Ái Tử Trà Bát
労働条件パンフ-ベトナム語.indd
CÁC BẠN CÓ ĐANG GẶP KHÓ KHĂN TRONG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG KHÔNG? ベトナム語 Gửi đến các bạn người nước ngoài lao động tại Nhật Bản Quầy thảo luận người lao động nước ngoài Đối với người
Title フエ地域におけるキン族の城隍神とタインフック村の事例 Author(s) チャン, ディン ハン, 福田, 康男 周縁の文化交渉学シリーズ7 フエ地域の歴史と文化 Citation 周辺集落と外からの視点 : Issue Date URL http:
Title フエ地域におけるキン族の城隍神とタインフック村の事例 Author(s) チャン, ディン ハン, 福田, 康男 周縁の文化交渉学シリーズ7 フエ地域の歴史と文化 Citation 周辺集落と外からの視点 : 601-611 Issue Date 2012-03-01 URL http://hdl.handle.net/10112/6299 Rights Type Article Textversion
6 Xem thêm câu áp chót ở phần cuối mục II: Kinh tế không phát đạt và ý thức không khích lệ là hai nguyên nhân đệ nhất của thất bại trong cách mạng của
Chú Giải Một Số Tác Phẩm Của LÝ Đông A Huỳnh Việt Lang ÁM THỊ BIỂU Vô kỷ tính: không thiện, không ác. Bộ mẹng: Thuộc tiếng Mường, chỉ sự giao du một cách trang trọng. Lý tiên sinh du ng từ bộ mẹng để tiêu
untitled
22. すうじ Các con s 23. おかね Ti n (1) おかね Ti n (2) かいもの Mua s m アイスクリームはいくらですか Kem bao nhiêu ti n? 100 えん 100 yen 1あめ K o 3アイスクリーム Kem 2ガム K o cao su 4チョコレート Sô cô la 24. かぞえかた Cách đ m (tính ) 25. じかん Gi
Ha y luyê n tâ p thông ba o đê n 119. Khi g. p hoa hoa n Trung tâm PCCC: Đây la 119, pho ng cha y va chư a cha y. Hoa hoa n hay Câ p cư u? Ba n : Hoa
G.i Đi.n Thoa i Đê n 119 Ha y go i bă ng điê n thoa i cô đi nh (điê n thoa i gă n trong nha hoă c điê n thoa i công cô ng). Ngươ i ơ Trung tâm ra lê nh pho ng cha y chư a cha y (PCCC) se biê t đươ c đi
Lê hô i giao lưu quô c tê Himeji lâ n thư 21 Nga y giơ : 30/10/2016 (Chu nhâ t) 10:00~15:00 (Trơ i mưa vâ n tiê n ha nh) Đi a điê m: Công viên Ohtemae
Tháng 9 năm 2016 sô 58 Bản tin sinh hoạt dành cho ngoại kiều. Phỏng vấn P1 Lê hô i giao lưu quô c tê Himeji lâ n thư 21 P2 Thông tin sư kiê n Mu a thu 2016 P3 Xe đạp cho mọi ngưới Xe đạp mini
Microsoft Word - 4. Do Hoang Ngan OK _2_.doc
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Nước ngoài, Tập 30, Số 4 (2014) 31-37 Đặc điểm của âm tiết tiếng Nhật và vấn đề xác định âm tiết trong tiếng Nhật Đỗ Hoàng Ngân* Phòng Khoa học Công nghệ, Trường Đại
Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị bổ túc, sửa đổi những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi điện
ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH 月 心 Sơ Lược Tiểu Sử NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN Biên Khảo Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG 眞 人 tài liệu sưu tầm 2014 Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info.
Microsoft PowerPoint vn Matsuki-Technical standards [互換モード]
Bài thuyết trình số 2 24 tháng 3 năm 2014 Tiến sĩ Matsuki Hirotada: Chuyên gia JICA về Giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra "Tiêu chuẩn kỹ thuật" Mỏ hàn và kè lát mái ở Nhật Bản và trên thế giới Sông
ベトナム人向けの講義 セミナー 研修映像制作サービスの提供開始について 映像の力でベトナム人従業員 実習生 留学生の学びをサポート 株式会社メディアオーパスプラス OCG Technology Joint Stock Company 株式会社メディアオーパスプラス (
ベトナム人向けの講義 セミナー 研修映像制作サービスの提供開始について 映像の力でベトナム人従業員 実習生 留学生の学びをサポート 株式会社メディアオーパスプラス OCG Technology Joint Stock Company 株式会社メディアオーパスプラス (https://www.mediaopusplus.com/ 本社 : 大阪府大阪市 代表取締役 : 竹森勝俊 以下 MOP) と OCG
Tường chống lũ cấy ghép cọc Nguyên tắc ép cọc tĩnh (The Press-in Principle) Tường bảo vệ cấy ghép cọc Các thành tự trước đây / hiện nay Phòng chống lũ
Engineering Group Công nghệ tường chống lũ cấy ghép cọc (implant) mới nhất Tường chống lũ cấy ghép cọc Nguyên tắc ép cọc tĩnh (The Press-in Principle) Tường bảo vệ cấy ghép cọc Các thành tự trước đây /
現代社会文化研究
No.34 2005 12 Abstract Từ khi chính sách đổi mới của Việt Nam được bắt đầu vào năm 1986, đến nay đã gần 20 năm. Chính sách này đã giúp duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua. Tuy nhiên
Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 Nguyen Nhat Anh Thu 副社長 The Interview 現地経営 by タカコベトナム 何度も調整して やっと Thu さんと面談が実現しました 同じ戦後世代ですが 相変わらずエネルギッシュで圧倒されます 同じ留学仲間なので 留学
Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 Nguyen Nhat Anh Thu 副社長 The Interview 現地経営 by タカコベトナム 何度も調整して やっと Thu さんと面談が実現しました 同じ戦後世代ですが 相変わらずエネルギッシュで圧倒されます 同じ留学仲間なので 留学した時の思い出 共通の知り合いの話など 実に懐かしかった 次第に家族や仕事の話になり インタービューであることを忘れて
Abe Industrial Vietnam Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 高橋馨 社長 The Interview Abe Industrial Vietnam を成長させた秘訣 Bí quyết xây dựng và phát triển Abe Industrial Vi
Abe Industrial Vietnam Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 高橋馨 社長 The Interview Abe Industrial Vietnam を成長させた秘訣 Bí quyết xây dựng và phát triển Abe Industrial Việt Nam Abe Industrial Vietnam は日本の阿部製作所の子会社 製品は 100%
Bạn Lê Hữu Sở (Agriteck Japan) "Bước tới nước Nhật trong cái lạnh tê tái của mùa đông,mọi thứ như đóng băng lại,bàn tay buốt giá của tôi run cầm cập.m
Hiện nay ở Việt Nam có thể tình cờ bắt gặp rất nhiều người nói tiếng Nhật. Trong số đó có những người đã đi Nhật và hoạt động rất tích cực trên nhiều lĩnh vực, góp phần trở thành cầu nối của 2 nước Việt
年 2 月 22 日 国家試験に合格した EPA 看護師 介護福祉士候補者が EPA 看護師 介護福祉士として就労する際の手続きについて 公益社団法人国際厚生事業団 受入支援部 1. はじめに 経済連携協定 (EPA) に基づき入国をした EPA 候補者が 看護師国家試験または介護福祉
2 2018 年 2 月 22 日 国家試験に合格した EPA 看護師 介護福祉士候補者が EPA 看護師 介護福祉士として就労する際の手続きについて 公益社団法人国際厚生事業団 受入支援部 1. はじめに 経済連携協定 (EPA) に基づき入国をした EPA 候補者が 看護師国家試験または介護福祉士国家試験に 合格し 引き続き EPA 看護師 介護福祉士として就労を希望する場合には 以下の手続きが必要となります
Chương 1 Công tác an toàn cần cho việc gì? だいあんぜんさ第 1 安全作業 ぎょうは何 なんひつようのために必要か? Sự cần thiết của công tác an toàn 1) Nếu bạn bị thương hay khuyết tật
Dành cho thực tập sinh kỹ năng Bước đầu tiên để thực tập sinh kỹ năng thực hiện các công việc xây dựng an toàn Tháng 3 năm 2015 Chương 1 Công tác an toàn cần cho việc gì? だいあんぜんさ第 1 安全作業 ぎょうは何 なんひつようのために必要か?
京都教育大学 外国人の子どもの教育を考える会
京都教育大学 外国人の子どもの教育を考える会 はじめに このワークブックは 多言語に対応した小学校算数科の問題集です 各学年の算数科の内容をわかりやすく解説したビデオコンテンツを観た後に 練習用としてご活用ください ビデオコンテンツは http://tagengohonyaku.jp/ で観ることができます 問題を解き終わったら 巻末の解答を活用して答え合わせをしてください 間違ったところは 再度,
Japanese 日本語 脱退一時金は原則として以下の 4 つの条件にすべてあてはまる方が国民年金 厚生年金保険又は共済組合の被保険者資格を喪失し 日本を出国後 2 年以内に請求されたときに支給されます 1 日本国籍を有していない方 2 国民年金の第 1 号被保険者としての保険料納付済期間の月数と保
Dành cho người nước ngoài rời khỏi Nhật Bản Người có tham gia đóng trợ cấp lương hưu từ 6 tháng trở lên sẽ được quyền nhận trợ cấp lương hưu trọn gói.tuy nhiên, một khi đã nhận trợ cấp lương hưu trọn gói
Microsoft Word - speech.docx
Ngày 6/3/2014 Ông MORI Mutsuya Trưởng đại diện Văn phòng JICA Việt Nam Họp báo hàng năm Nhìn lại hoạt động trong năm 2013 Tôi là Mori Mutsuya, Trưởng đại diện Văn phòng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
Tuổi khác nhau, trình độ cũng khác nhau, cách dạy và học cũng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở lộ trình học. Đầu tiên, các em tập viết, tập phát âm t
Bản tin Yêu Mến Số 4 ニュースレターユーメン 17/09/2014 Phát hành bởi VIETNAM yêu mến KOBE 653-0052 Kobeshi Nagataku Kaiuncho 3-3-8 発行 : ベトナム夢 KOBE E-mail: [email protected] Tel&Fax:078-736-2987 Báo cáo hoạt động
文理侯陳公補考 蓮田隆志 問題の所在 (2) (1) (1) 1 文理侯陳公碑 Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc về Viện Hàn lâm Khoa hoc Xã hội Việt Nam (2) 29
文理侯陳公補考 蓮田隆志 問題の所在 2005 3 (2) (1) (1) 1 文理侯陳公碑 Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc về Viện Hàn lâm Khoa hoc Xã hội Việt Nam 19307 (2) 29 23 (3) phiên âm (4) [Đinh và Trần (chủ biên) 2007: 107-113] thôn Mật,
Như chúng ta sẽ thấy, nhiều phương diện của ngữ pháp tiếng Việt là dễ chứ không khó. Trên thực tế, nói một cách chính xác hơn, tiếng Việt đa phần là m
TIẾNG VIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT NGÔN NGỮ KHÓ KHÔNG? Is Vietnamese A Hard Language? 㗂越𣎏沛羅𠬠言語𧁷空? Tác giả: Jack Halpern ( 春遍雀來 ) 1. LỜI ĐỒN ĐẠI HAY LÀ SỰ THẬT? 1.1 Học tiếng Việt có khó không? Học tiếng Việt có
1 ページ
1 ページ 2 ページ 3 ページ 4 ページ 5 ページ 6 ページ 7 ページ 8 ページ 9 ページ 10 ページ 11 ページ 12 ページ 13 ページ 14 ページ 15 ページ 16 ページ 17 ページ 18 ページ 19 ページ 20 ページ 21 ページ 22 ページ 23 ページ 原田明子様 PC あきない 受注センターの山本です この度は 当店へご注文をいただきまして誠にありがとうございます
không khí ít bị ô nhiễm vì không có xe gắn máy, nhưng trên tàu người ta dùng cái bịt miệng khẩu trang tránh bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp vì đông
TOKYO MỘT THOÁNG MƯA BAY Sau thế chiến thứ hai kinh tế Nhật Bản phục hồi và phát triển nhanh chóng trở thành cường quốc số 1 Á Châu. Dân tộc Nhật đã làm thế giới phải kính phục. Gơn 40 năm ở Đức chúng
*4-1 これから 通訳 PTA 活動 子どもの安全と健康を守るためのいろいろな制度のことをお話します Chúng tôi xin nói chuyện về việc thông dịch, hoạt động của hội PTA (hội phụ huynh và giáo viên), c
*4-1 これから 通訳 PTA 活動 子どもの安全と健康を守るためのいろいろな制度のことをお話します Chúng tôi xin nói chuyện về việc thông dịch, hoạt động của hội PTA (hội phụ huynh và giáo viên), các chế độ để bảo vệ an toàn và sức khỏe cho trẻ em.
2 日本語らしい発音 にするには シャドーイング 日本語の発音がもっと上手くなりたい! そのもう一つの方法として シャドーイング があります - シャドーイングとは?- ネイティブの人が読んだ日本語を聞きながら それと同じ文章をそっくりそのまま音読することです - シャドーイングをする時のポイントは
2 月 23 日 ( 土 ) に VJCC ハノイで ベトナム人のための日本語音声教育セミナー をテーマに日本語教育セミナーを行いました 講師は 外国語音声教育研究会の皆さまです 2 月当日は 41 名 ( ベトナム人 21 名 日本人 20 名 ) の参加者のもと ベトナム語と日本語の音声のしくみをわかりやすくまとめた上で ベトナム人に特有の発音の問題について考えました その後で 毎日のクラスの中で実際に行える指導法についてのワークショップを行いました
専門学校アリス学園 日本語学科募集要項 2017 TRƯỜNG QUỐC TẾ ALICE THÔNG TIN TUYỂN SINH KHOA TIẾNGNHẬT NĂM 2017 学校法人アリス国際学園 専門学校アリス学園 921-8176 石川県金沢市円光寺本町 8-50 Tên trường : TRƯỜNG QUỐC TẾ ALICE Số bưu điện : 921-8176 Địa chỉ
Để tưởng niệm Vĩnh Sính ( ), một nhà Nhật Bản Học tiên phong và người ngưỡng mộ Bashô. 2
Nguyên tác: Ueda Makoto Biên dịch và bình chú: Nguyễn Nam Trân MATSUO BASHÔ Bậc Đại Sư Haiku Bashô trên đuờng du hành (tranh của Morikawa Kyoriku 森川許六 1656-1715, một đệ tử) 1 Để tưởng niệm Vĩnh Sính (1944-2014),
Title Author(s) 日本語とベトナム語における使役表現の対照研究 : 他動詞 テモラウ ヨウニイウとの連続性 Nguyen Thi, Ai Tien Citation Issue Date Text Version ETD URL
Title Author(s) 日本語とベトナム語における使役表現の対照研究 : 他動詞 テモラウ ヨウニイウとの連続性 Nguyen Thi, Ai Tien Citation Issue Date Text Version ETD URL https://doi.org/10.18910/50580 DOI 10.18910/50580 rights 論文内容の要旨 氏名 ( N G U Y E
技能実習生手帳 ( ベトナム語版 ) SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG (Bản tiếng Việt) 氏名 / Họ tên 所有者 ( 技能実習生氏名 )/ Chủ sở hữu sách (họ tên thực tập sinh kỹ năng) 名
技能実習生手帳 ( ベトナム語版 ) SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG (Bản tiếng Việt) 氏名 / Họ tên 所有者 ( 技能実習生氏名 )/ Chủ sở hữu sách (họ tên thực tập sinh kỹ năng) 名称 住所 連絡先 / Tên, địa chỉ, cách thức liên hệ 監理団体 / Đơn
ベトナム領メコン・デルタ開発の現状とその影響
No.26 2003 3 Tuy người Việt Nam đã đến khẩn hoang lập ấp rải rác trong Đồng Bằng Sông Cửu Long từ lâu. Song đến năm 1757 chúa Nguyễn mới chính thức thiết lập sự cai trị ở vùng đất này. Thế là từ đó, Đồng
( ベトナム語版 ) (Dành cho tu nghiệp kỹ năng thực tập sinh nước ngoài) ( 外国人技能実習生のための ) Bảng tự khai báo cho cơ quan y tế 医療機関への自己申告表 Đây là các mục cần thi
Dành cho tu nghiệp kỹ năng thực tập sinh nước ngoài ベトナム語版 Bảng tự khai báo cho cơ quan y tế Phiếu hỏi khám bổ sung TỔ CHỨC HỢP TÁC TU NGHIỆP QUỐC TẾ NHẬT BẢN 公益財団法人国際研修協力機構 ( ベトナム語版 ) (Dành cho tu nghiệp
けんこうわたしの健康カード The i tê cu a tôi - ベトナム語 やさしい日本語 - -Tiê ng Viê t Nam Tiê ng Nhâ t dê - しゃかいふく 社会福 し祉 ほうじん法人さぽうと 2 1 Support21 Social Welfare Foundation
わたしの健康カード The i tê cu a tôi - ベトナム語 やさしい日本語 - -Tiê ng Viê t Nam Tiê ng Nhâ t dê - しゃかいふく 社会福 し祉 ほうじん法人さぽうと 2 1 Support21 Social Welfare Foundation 平成 25 年度 生活者としての外国人 のための日本語教育事業 地域日本語教育実践プログラム (A) The
ENTRANCE APPLICATION ( ベトナム版 ) ANABUKI MEDICAL & WELFARE COLLEGE JAPANESE COURSE FUKUYAMA
ENTRANCE APPLICATION ( ベトナム版 ) ANABUKI MEDICAL & WELFARE COLLEGE JAPANESE COURSE FUKUYAMA 募集要項 設置学科 日本語学科 1 年 6 ヵ月 日本語学科 2 年 授業時間数 1200 時間 /60 週 1600 時間 /80 週 在学期間 10 月 ~ 翌々年 3 月 4 月 ~ 翌々年 3 月 収容定員 授業時間帯
