Microsoft Word - NOI DUNG NCKH - TIENG VIET.doc
|
|
|
- あゆみ いくのや
- 8 years ago
- Views:
Transcription
1 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Hiện nay, mối quan hệ Việt - Nhật không chỉ dừng lại trên lĩnh vực kinh doanh mà còn phát triển trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, phúc lợi xã hội Trong đó, giáo dục là lĩnh vực được quan tâm và chú ý nhiều nhất. Bởi vì nhu cầu học tiếng Nhật để đáp ứng chế độ tuyển dụng trong các công ty Nhật Bản ngày càng tăng. Nhu cầu tuyển dụng thông dịch viên tiếng Nhật có trình độ chuyên môn thành thạo ngày càng được coi trọng, vì vậy chất lượng dạy và học luôn được đặt lên hàng đầu. Tiếng Nhật dần trở thành một ngôn ngữ được nhiều người quan tâm, yêu thích, học tập và nghiên cứu. Ngôn ngữ nào cũng có những nét đặc trưng vốn có thể hiện nét văn hóa độc đáo riêng biệt. Tiếng Nhật cũng có những đặc trưng thể hiện nét văn hóa đặc sắc của xứ sở hoa anh đào. Đó là nền văn hóa coi trọng truyền thống dân tộc, những chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội. Tiếng Việt cũng vậy, đó là một loại hình ngôn ngữ thể hiện văn hóa truyền thống tốt đẹp, những quy phạm đạo đức, những chuẩn mực xã hội và các mối quan hệ con người trong xã hội đó. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến các hình thức thể hiện lời nói trong giao tiếp, đặc biệt là cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường. Tùy vào từng đối tượng, hoàn cảnh mục đích giao tiếp mà sử dụng những hình thức xưng hô phù hợp. Trong trường hợp trao đổi với cấp trên, người lớn tuổi, người có địa vị xã hội thì người nói phải sử dụng cách nói tôn kính (Sonkeigo) nhằm thể hiện sự kính trọng với đối tượng giao tiếp. Trong trường hợp muốn trình bày quan điểm của bản thân hay nói về những hành động mà người nói thực hiện thì sử dụng cách nói khiêm nhường (Kenjougo) nhằm biểu hiện sự nhún nhường và kính trọng đối tượng một cách gián tiếp. 1
2 Thông qua đề tài Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính - khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt, người viết muốn nghiên cứu những nét đặc trưng trong cách nói tôn kính - khiêm nhường nhằm thể hiện nét văn hóa giao tiếp độc đáo của hai quốc gia, dân tộc được ẩn trong mỗi ngôn ngữ. Qua đó, giúp người học tiếng Nhật hạn chế sự nhầm lẫn trong các hình thức sử dụng và có thể sử dụng các cách nói này phù hợp trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Lịch sử nghiên cứu đề tài Cách nói tôn kính khiêm nhường là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, các học giả quan tâm và đã viết nên nhiều công trình nghiên cứu bằng tiếng Nhật và tiếng Việt. Bởi vì hai hình thức xưng hô này có vai trò quan trọng trong giao tiếp và ảnh hưởng rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội đặc biệt là mối quan hệ con người. Thực tế đã cho thấy từ trước đến nay ở trong và ngoài nước đã từng công bố rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan về đề tài trên. Đó là các công trình nghiên cứu: Bằng tiếng Nhật: 日本語教育指導参考書 18- 敬語教育の基本問題 ( 下 ) thuộc quyền sở hữu tác giả tại trung tâm nghiên cứu 国立国語 khái quát về cách sử dụng kính ngữ, trường hợp sử dụng kính ngữ, đối tượng sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật 敬語再入門 của tác giả 菊土康人 khái quát về bước khởi đầu khi học và quen với kính ngữ trong tiếng Nhật. Trong cuốn sách có khái quát một số mẫu kính ngữ có kèm ví dụ minh họa và các bài hội thoại với bối cảnh là trong công ty, nhà hàng, nhà ga, siêu thị 敬語表現 của các tác giả 蒲谷宏, 川口義一 và 坂元惠 khái quát về một số cách biểu hiện thường gặp trong kính ngữ như thể hiện sự kính trọng với cấp trên, khách hàng, người lớn tuổi và thể hiện sự nhún nhường, kính trọng đối tượng nói khi người nói muốn đề xuất ý kiến hay lối nói khiêm tốn về những hành động mà người nói thực hiện. 2
3 Bằng tiếng Việt: - Cơ sở Văn Hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm, Chu Xuân Diên khái quát về một số loại hình văn hóa của từng vùng miền hay cách ứng xử trong giao tiếp và những chuẩn mực trong xưng hô của người Việt Nam - Tiếng Việt Thực Hành của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp khái quát về những vấn đề cơ bản trong tiếng Việt như cách đặt câu, cách dùng từ, cách sắp xếp và phân tích đoạn văn, phân biệt văn nói và văn viết - Nhập Môn Xã Hội Học của TS Trần Thị Kim Xuyến, ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan làm rõ về những mối quan hệ con người, mối quan hệ xã hội, mối quan hệ cộng đồng và thế giới nhằm củng cố những chuẩn mực trong giao tiếp và những tình huống cần tránh trong xưng hô để tạo mối quan hệ tốt đẹp, hữu hảo. Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích về kính ngữ trong tiếng Nhật và lịch sự chuẩn mực trong cách xưng hô trong tiếng Việt. Trong đề tài nghiên cứu của mình, người viết cố gắng tìm và phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong phong cách xưng hô chuẩn mực của hai ngôn ngữ. Từ đó phần nào giúp người học tiếng Nhật có thể sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật tránh những nhầm lẫn thường gặp và có thể bổ sung một số kiến thức trong giao tiếp đúng mực cho người Việt. Công trình nghiên cứu này chắc chắn sẽ khó tránh khỏi một số sai lầm, vì vậy người viết mong nhân được một số ý kiến đóng góp của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước để bài viết của mình được hoàn chỉnh hơn. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu: Mục tiêu: Đề tài này nhằm phân biệt điểm tương đồng và khác biệt giữa cách thể hiện ngôn ngữ của hai nước. Ngoài ra, đề tài còn cung cấp tài liệu nghiên cứu cho người học tiếng Nhật về chủ đề khiêm nhường ngữ, tôn kính ngữ qua những mục hướng dẫn cách dùng trong một số tình huống và đối tượng giao tiếp. Đồng thời giúp người Việt phần nào hiểu thêm về tiếng Việt và nền văn hóa truyền thống nước nhà. 3
4 Sau khi nghiên cứu, đề tài sẽ cung cấp tài liệu về cách sử dụng, tình huống giao tiếp và những nhầm lẫn thường gặp trong hai cách nói trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Bên cạnh đó, người học tiếng Nhật và người Việt sẽ hiểu thêm về văn hóa truyền thống được thể hiện trong cách nói vì ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, thông qua đề tài này giúp người Việt và người Nhật một lần nữa nhìn lại nét văn hóa truyền thống của nước mình trong xu thế thương mại, toàn cầu hóa hiện nay - nơi mà thực trạng những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị lãng quên. Phạm vi nghiên cứu: Hình thức trình bày về hai cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt trong luận văn này không phải là toàn bộ cách nói trong hệ thống ngôn ngữ học của hai quốc gia mà chỉ là một số cách nói trong giao tiếp hiện đại. Những kính ngữ trước giai đoạn này và những kính ngữ trong cung đình, nhà chùa không được đề cập trong nội dung dung chính của khóa luận tốt nghiệp. Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài này với mục đích tìm hiểu Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính và khiêm nhường giữa tiếng Nhật và Tiếng Việt, người viết đã sử dụng một số phương pháp sau đây: - Thu thập tài liệu: Phương pháp này được thực hiện bằng cách tra cứu bài viết, bài tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Nhật trên mạng đồng thời tìm và đọc các công trình nghiên cứu của các tác giả người Nhật, người Việt tại thư viện Nhật - Việt (VJCC - HCM), các nhà sách Ngoài ra người viết còn thu thập tài liệu thông qua nguồn tài liệu sách vở từ giáo viên, những nhà nghiên cứu đi trước. - Khảo sát thực tế: Để có thể đưa ra một số đề xuất liên quan đến phương pháp dạy và học hai cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật có hiệu quả, người viết đã tiến hành lập bảng điều tra thăm dò ý kiến. Đối tượng của bảng điều tra là 160 sinh viên năm thứ tư của các lớp 06DPN1, 06DPN2, 06DPN3, 06DPN4, 4
5 06DPN5, 06DPN6 ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại Học Lạc Hồng (Biên Hòa - Đồng Nai). - Thống kê: Sau khi phát bảng điều tra, người viết đã thống kê các ý kiến của sinh viên về cách dạy, cách học, giáo trình và một số yếu tố khác liên quan đến hai cách nói trên. Dựa vào tỷ lệ chênh lệch giữa các ý kiến, người viết đã tiến hành phân tích và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật. - Phân tích: Sau khi thu thập tài liệu và tiến hành thống kê người viết tiếp tục chuyển sang bước phân tích tài liệu, tra cứu từ điển để hiểu nội dung bài viết. Phân tích những nội dung cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nói một cách cụ thể là phân tích cách sử dụng, trường hợp giao tiếp, đối tượng nói chủ yếu của hai cách nói. Điểm phân tích quan trọng là làm sáng tỏ những nguyên nhân khiến người học còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật. - Tổng hợp: Sau khi phân tích cách sử dụng của hai cách nói này từ nhiều nguồn tài liệu, người viết đã sắp xếp, chọn lọc và tổng hợp những vấn đề chung của mỗi cách nói. Ngoài việc tổng hợp dựa trên tài liệu nghiên cứu, người viết còn tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của giáo viên, những ý kiến phản hồi từ những sinh viên chuyên ngành Nhật Bản học và những nhà nghiên cứu đi trước để lấy làm tài liệu thực tế cho công trình nghiên cứu. - So sánh: Sau khi tiến hành những phương pháp trên, người viết chuyển sang bước so sánh điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng giữa hai cách nói này. Qua đó, giúp người học tiếng Nhật có thể phần nào phân biệt được một số tình huống, cách thức sử dụng, những nhầm lẫn và những khó khăn thường gặp đồng thời có thể hiểu thêm nét văn hóa truyền thống đặc sắc, độc đáo thể hiện trong từng cách sử dụng. Những dự kiến nghiên cứu tiếp tục về đề tài: Trong đề tài nghiên cứu này, người viết chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu về Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính - khiêm nhường giữa tiếng Nhật và 5
6 tiếng Việt, chính vì vậy chắc chắn đề tài còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Vì vậy, người viết muốn tiếp tục nghiên cứu thêm về đề tài này nhằm phát triển và mởi rộng vấn đề để có cách nhìn khách quan về nội dung đề tài nghiên cứu. - Nét văn hóa thể hiện thông qua ngôn ngữ - Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Nhật ở Nhật - Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Việt ở Việt Nam - Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Việt trong công ty Nhật - Những sai lầm thường gặp khi sử dụng kính ngữ của người Việt khi học tiếng Nhật. Kết cấu của đề tài: Chương I: Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt Chương II: Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt Chương III: Một số đề xuất về phương pháp dạy - học cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật 6
7 PHẦN NỘI DUNG Chương I: Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt Chương II: Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt Chương III: Một số đề xuất về phương pháp dạy - học cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật 7
8 CHƯƠNG I ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CÁCH NÓI TÔN KÍNH - KHIÊM NHƯỜNG TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT 8
9 Giao tiếp là một trong những khả năng đặc biệt của con người. Bởi vì thông qua giao tiếp, con người có thể thu thập thông tin, truyền đạt suy nghĩ, thiết lập các mối quan hệ Do đó, trên mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có những cách giao tiếp riêng. Trong đó, cách xưng hô đúng chuẩn trong giao tiếp cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, nhất là ở hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản hai đất nước có hệ thống xưng hô khá phức tạp. Một trong những đặc điểm của tiếng Nhật và tiếng Việt là phong phú về cấp độ của lời nói. Chính vì đặc điểm này mà khi tiếp xúc với người Nhật và người Việt, một số người cho rằng tiếng Nhật và tiếng Việt quá trang trọng và lịch thiệp, dễ tạo ra khoảng cách khi giao tiếp. Tuy vậy, thực tế hoàn toàn không phải thế vì mức độ lịch thiệp trong ngôn ngữ ở nước nào cũng có. Có ngôn ngữ thể hiện qua phương tiện từ vựng, có ngôn ngữ thể hiện bằng phương tiện ngữ pháp và cũng có ngôn ngữ thể hiện sự lịch thiệp đó bằng cả phương tiện từ vựng lẫn phương tiện ngữ pháp. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến một số đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Thông qua những đặc trưng cơ bản này, người viết so sánh và đưa ra một số điểm tương đồng và khác biệt của hai cách nói trong mỗi ngôn ngữ. Từ đó đưa ra một số đề xuất về giáo trình, phương pháp dạy - học kính ngữ trong tiếng Nhật. Cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường trong đối thoại hay trong văn bản biểu hiện thái độ, tình cảm của người nói, nguời viết đối với người đọc, người nghe. Sử dụng cách nói tôn kính không có nghĩa là người phát biểu có ý nịnh nọt, cũng như thể hiện lối nói khiêm nhường không có nghĩa là người phát biểu có sự tự ty mặc cảm. Có trường hợp không biết áp dụng, hoặc cố ý dùng sai có thể tạo phản ứng ngược thậm chí có ý châm biếm đối tượng. Chính vì vậy việc sử dụng đúng các cấp độ lời nói đóng vai trò vô cùng quan trọng trong giao tiếp. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường xuyên phải giao tiếp với nhiều người, với nhiều đối tượng thuộc các tầng lớp khác nhau. Và chính sự tinh tế, khéo léo trong cách ứng xử với mọi người đã giúp cho chúng ta đạt tới một nghệ thuật đó chính là nghệ thuật giao tiếp. 9
10 1.1 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Nhật Khái quát về tiếng Nhật Tiếng Nhật là một ngôn ngữ được hơn một trăm ba mươi triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Đây là một ngôn ngữ nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch. Trong đó, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản. Đó là những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại. Nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo các cấp độ khác nhau tùy theo tình huống. Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng tùy thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp và các yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng. Ngôn ngữ Nhật Bản thể hiện rất rõ ràng hệ thống cấp bậc, tôn ti trật tự trong xã hội. Theo đó, người dưới luôn dùng cách nói tôn kính với người cấp trên mình (dù người đó nhỏ tuổi hơn mình), và dùng cách nói khiêm nhường khi nói về bản thân mình. Nếu nói không phù hợp sẽ bị xem là thất lễ và đụng chạm rất lớn đến thể diện của người Nhật. Việc hiểu biết tiếng Nhật là chìa khóa để hiểu người Nhật và những cảm nghĩ, thái độ, ý nghĩa trong lời nói của họ Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính trong tiếng Nhật Ý nghĩa Cách nói tôn kính là cách nói nhằm đề cao và biểu hiện ý kính trọng của người nói đối với người nghe hoặc đối tượng giao tiếp. Đối tượng giao tiếp có thể là người nghe hoặc cũng có thể là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói. Đối tượng cần phải biểu hiện ý kính trọng có thể là cấp trên, người không quen biết hoặc người ngoài 10
11 nhóm Cách nói tôn kính còn là cách nói thể hiện thái độ kính trọng của người nói đối với trạng thái, tính chất, hành vi hoặc những người (sự vật) thuộc về phía người nghe. [12;1988:14] Ví dụ: - Gakusei: Sensei wa kono hon wo oyomi ni narimasu (a) ka? (Học sinh: Thầy đã đọc cuốn sách này chưa ạ?) - Sen sei: Ee, yomimasu (b) yo. / Aa, yomu (c) yo. (Thầy giáo: Ừ, thầy đọc rồi. / À, đọc rồi) Trong vị trí (a), học sinh thể hiện hành động của thầy giáo nên sử dụng hình thức tôn kính của động từ đọc (yomu) là oyomininaru. Không thể thay bằng một động từ được chia ở hình thức tôn kính (oyomininaru) vào vị trí (b) hoặc (c) được vì đây là hành động của chính bản thân thầy giáo, hơn nữa thầy giáo cũng không thể hiện thái độ kính trọng đối với học sinh được. Trong các vị trí (a), (b) hoặc (c) thì cách nói (a) thể hiện mức độ tôn kính cao nhất vì động từ được chia dưới hình thức tôn kính của động từ thường (yomu) là oyomi ni naru Trường hợp sử dụng: 1 Đề cao hành động của đối tượng giao tiếp Ví dụ: Okaki ni naru viết, Irassharu đi / đến / ở, nasaru làm Trong trường hợp này, người sử dụng thường nhầm lẫn không biết cách sử dụng. Đó là thay vì nói khiêm tốn thì người nói lại nói tôn kính và ngược lại. Ví dụ: - Trường hợp ông Yamada của công ty A đến công ty của người nói: A sha no Yamda san ga irasshatteimasu (Ông Yamada của công ty A đang đến) đây là cách sử dụng đúng vì động từ irasshatte imasu là thể liên tiến của động từ irassharu (tôn kính của động từ kuru - đến). Hơn nữa, hành động đến (irassharu) là hành động của đối tượng được nhắc đến. Do đó, cách sử đúng là hình thức chia động từ ở cách nói tôn kính. Nhưng nếu sử dụng hình thức động từ của cách nói khiêm nhường của động từ kuru là mairu thì sai: A sha no Yamada san ga maitte imasu 11
12 2 Đề cao bản thân đối tượng giao tiếp Ví dụ: A sha no Yamada kacho (Ngài trưởng phòng Yamada của công ty A) Yamada sama (Ngài Yamada) Lưu ý cách giới thiệu người trong và người ngoài công ty. Ví dụ 1: Ông Tanaka là trưởng phòng công ty của người nói và ông Yamada là trưởng phòng công ty A - Khi giới thiệu ông Tanaka cho ông Yamada: Kochira wa kacho no Tanaka desu (Đây là ông trưởng phòng Tanaka) - Khi giới thiệu ông Yamada cho ông Tanaka: Kochira wa A sha no Yamada kacho desu (Đây là ông trưởng phòng Yamada của công ty A). Trường hợp giới thiệu như thế này là đã quen thân với ông Yamada. Nếu không thân với ông Yamada thì phải giới thiệu bằng cách: Kochira wa A sha no kacho no Yamada sama desu (thêm tiếp vị ngữ tôn kính để xưng hô là sama ngài) Ví dụ 2: Trường hợp gọi tên cấp trên là ông trưởng phòng Tanaka Trước mặt khách hàng: Tanaka Trong công ty: Tanaka kacho 3 Đề cao những vật sở hữu và những sự việc liên quan đến đối tượng giao tiếp Ví dụ: Onsha (công ty của ngài), Onimotsu (hành lý của ngài), Okuruma (xe của ngài), Gokazoku (gia đình ngài), Okao (gương mặt của ngài), Goryoshin (song thân của ngài) 4 Đề cao những trạng thái, tính chất của đối tượng giao tiếp Ví dụ: Oyasashi (hiền, dịu dàng), Okuwashi (chi tiết), Gorippa (lộng lẫy), Okirei (đẹp) Tránh sử dụng quá mức tôn kính như: - Gorippa na okuruma ni onori ni nattemasu ne. (Anh đi chiếc xe đẹp) - Owakakute, oyasashikute, gosomei na ojosama. (Cô gái trẻ trung, dịu dàng và thông minh) 12
13 Hình thức thể hiện: 1 Thêm vào tiếp đầu ngữ tôn kính: Ví dụ: Onamae Goiken Omiashi Kisha Onsha (tên) (ý kiến) (chân) (công ty) (công ty) Kosetsu Sonfu Homei Sonmei Gorenraku (cao kiến) (ông) (tên) (tên) (liên lạc) 2 Thêm vào tiếp vị ngữ tôn kính: Ví dụ: Yamada san Yamada sama Tanaka shi (Ông Yamada) (Ngài Yamada) (Ông Tanaka) 3 Sử dụng danh từ tôn kính: Ví dụ: Yamada sensei Yamada kacho Tanaka shacho (thầy Yamada) (trưởng phòng Yamada) (Giám đốc Tanaka) 4 Hình thức thêm O / Go vào danh từ và hình thức liên dụng của động từ: O / Go ~ ni naru Ví dụ: - Shikiten niwa kotaishidenka ga goshusseki ni narimashita. (Điện Hoàng Thái Tử đã có mặt tại buổi lễ) - Shuri ga owarimashita node, moitsu kara demo goshiyo ni naremasu. (Vì tôi đã sửa xong nên anh có thể sử dụng bất cứ lúc nào) O / Go ~ nasaru Ví dụ: - Kacho ga myonichi juuji ni kochira wo gohomon nasaru so desu. (Nghe nói vào lúc 10 giờ ngày mai ông hội trưởng sẽ viếng thăm chỗ này) - Kono hon wo oyomi nasaru no deshitara, okashiitashimasu. (Nếu bạn đọc cuốn sách này, tôi sẽ cho bạn mượn) O / Go ~ desu Ví dụ: - Okyaku sama ga kochira de omachi desu. (Quý khách vui lòng chờ ở chỗ này) - Gakucho wa honjitsu no kaigi ni wa gokesseki desu (Ông hiệu trưởng sẽ vắng mặt trong buổi hội nghị ngày hôm nay) 13
14 O / Go ~ kudasaru / kudasai Ví dụ: - Mina sama de gokento kudasaru yo onegai itashimasu. (Tôi xin nhờ mọi người xem xét giùm cho) - Mina sama, honjitsu wa yokoso okoshi kudasaimashita. (Thành thật hoan nghênh mọi người đã đến hôm nay) - Oto sama ga okaeri ni nattara, yoroshiku otsutae kudasai. (Nếu bố anh về, xin cho tôi gởi lời hỏi thăm) 5 Hình thức kính ngữ của Reru và Rareru (động từ thể ukemi - bị động dùng làm kính ngữ) Ví dụ: - Takahashi sensei wa rokusai no koro aikido wo narai hajime narete, sono ato zutto tsuzukete korareta so desu. (Nghe nói thầy Takahashi bắt đầu học võ Aikido vào lúc 6 tuổi và sau đó thầy tiếp tục suốt cho đến nay) - Gokazoku no mina sama wa itsu goro kochira ni kaeraremasu ka. (Gia đình của anh trở về đây vào khoảng khi nào) 6 Sử dụng động từ kính ngữ: Suru nasaru (làm) - Shacho wa kyujitsu niwa taitei gorufu wo nasaimasu. (Ông giám đốc thường chơi golf vào ngày nghỉ) - Wasuremono wo nasaimasen yo oki wo tsukete kudasai. (Xin hãy chú ý đừng để quên đồ) Iku Irassharu / Oide ni naru (đi) - Kaicho wa raigetsu chujun ni Newyork e oide ni naru yotei desu. (Ông hội trưởng dự định đi Newyork vào trung tuần tháng tới) - Sensei wa kono tabi no kokusai kaigi ni oku sama mo tsurete irassharu so desu. (Nghe nói thầy giáo dẫn theo vợ đến hội nghị quốc tế lần này) Kuru Irassharu / oide ni naru / okoshi ni naru / mieru / omie ni naru (đến) 14
15 - Taniguchi sensei ga Tokyo e irasshatta no wa sannen mae desu. (Thầy Taniguchi đã đến Tokyo cách đây ba năm) - Okyaku sama ga omie ni narimashitara, kochira e okoshishite kudasai. (Nếu quý khách đến, xin hãy đi qua lối này) Iu Ossharu (nói) - Sensei no osshatta torini itasu tsumori desu. (Tôi định làm theo như thầy giáo nói) - Sensei wa kyo kenkyushitsu ni yorazu ni chokusetsu kaeru to osshaimashita. (Thầy giáo nói hôm nay ông ấy về thẳng, không ghé vào phòng nghiên cứu) Ngoài ra còn có một số cách biểu hiện của các động từ khác như: iru irassharu / oide ni naru (có / ở); taberu / nomu agaru / meshiagaru (ăn / uống) Đặc trưng cơ bản của cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật Ý nghĩa Cách nói khiêm nhường là cách nói nhằm thể hiện ý lịch sự của người nói một cách gián tiếp đối với người nghe hoặc nhân vật được nhắc đến trong đề tài nói bằng cách khiêm nhường (hạ thấp) những hành động của chính bản thân người nói hoặc những người cùng nhóm với người nói. [12;1988:14] Ví dụ: Tình huống: Kyaku no nimotsu wo, eki kara ie made dare ka ga korobu koto wo kyaku ni iu. (Nói với khách về việc ai sẽ đảm nhận vai trò mang hành lý của khách từ nhà ga về đến nhà) 1 Onimotsu wa watashi ga onimochishimasu. (Tôi sẽ mang hành lý) 2 Onimotsu wa ani ga omochishimasu. (Anh trai tôi sẽ mang hành lý) 3 Onimotsu wa uchi no Murata ga omochishimasu. (Murata trong nhóm tôi sẽ mang hành lý) a) Chủ ngữ trong các tình huống ở trên là Tôi, anh trai tôi, Murata. b) Người mang hành lý là Tôi, anh trai tôi, Murata. 15
16 c) Nhân vật Tôi trong 1 chính là bản thân người nói. Như vậy, những nhân vật như anh trai tôi hoặc Murata sẽ là những nhân vật xuất hiện trong đề tài nói. d) Nhân vật anh trai tôi trong 2 là nhân vật thuộc nhóm của người nói. Còn nhân vật Murata trong ví dụ 3 có thể tưởng tượng nhân vật này là người sống cùng nhà, họ hàng, nhân viên hay người giúp đỡ e) Trong trường hợp 3 thì có thể hiểu rằng nhân vật Murata sẽ là người của phía người nói nhờ vào căn cứ là việc sử dụng hình thức uchi no (người trong nhóm). Ngoài ra, còn căn cứ vào cách sử dụng từ xưng hô không có hậu tố San (~ anh / chị ). f) Tiếp đầu ngữ O trong động từ Omochisuru của ba trường hợp trên sẽ là cách biểu hiện lịch sự đối với khách hàng và người mang hành lý là bản thân người nói 1và những nhân vật trong nhóm người nói 2, Trường hợp sử dụng 1 Khiêm nhường hành động của người nói Ví dụ: Haikensuru Omochisuru Mairu Zonjiru (Xem) (Chờ) (Đi / đến) (Biết) 2 Khiêm nhường bản thân người nói Ví dụ: Watakushidomo Temaedomo Shosei Sessha (Chúng tôi) (Chúng tôi) (Tôi) (Tôi) 3 Khiêm nhường những vật sở hữu và những sự việc liên quan đến người nói Ví dụ: Heisha / Shosha: công ty chúng tôi Các loại 1 Cách nói khiêm nhường loại I: Là cách nói khiêm nhường biểu hiện ý kính trọng và lịch sự với người nghe thông qua việc hạ thấp bản thân mình khi người nói hay những người thuộc nhóm người nói là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói. [12;1988:15] Đó là những động từ như: itasu (làm), mairu (đi), oru (ở, có mặt) 16
17 Ví dụ: Watakushi wa ashita shuccho de osaka he mairimasu. (Tôi sẽ đi công tác Osaka vào ngày mai) Chủ ngữ tôi được chuyển sang hình thức thể khiêm nhường là watakushi còn động từ đi được chuyển thành mairu (ở hình thức lịch sự sẽ là ikimasu, irasshaimasu) 2 Cách nói khiêm nhường loại II: Là cách nói đề cao phía đối tượng bằng cách hạ thấp phía người nói khi những hành động của phía người nói (bản thân người nói, những người thuộc nhóm người nói) có liên quan đến đối tượng cần biểu hiện thái độ kính trọng, lịch sự (người không thân thiết, người ngoài nhóm ) [12;1988:15] Theo đó, sẽ không thể sử dụng cách nói khiêm nhường trong trường hợp mà sự sở hữu hay những hành động của người nói không liên quan đến đối tượng cần biểu hiện thái độ lịch sự. Ví dụ: - Densha ga mairimasu. (Xe điện tới) Trong ví dụ này, cho dù động từ tới (kuru) được chia thành hình thức của cách nói khiêm nhường là mairu nhưng cũng không được coi là cách nói khiêm nhường vì đối tượng được đề cập đến ở đây là xe điện không liên quan đến người nói. Cách sử dụng đúng là densha ga kimasu. - Watashi wa sensei no otaku he mairimasu. (Tôi tới nhà thầy giáo) Ở đây động từ tới (kuru) được chia thành hình thức động từ của thể khiêm nhường là mairu. Trong ví dụ này đây là cách sử dụng đúng vì hành động của người nói hướng đến đối tượng muốn biểu hiện ý lịch sự, kính trọng là thầy giáo Hình thức thể hiện 1 Thêm vào tiếp đầu ngữ khiêm nhường: Ví dụ: Setsubun (văn của tôi), Gusoku (con trai của tôi), Heisha (công ty của tôi), Socha (trà của mình mời người khác uống), Shosha (công ty của tôi) 2 Thêm vào tiếp vị ngữ khiêm nhường: Ví dụ: Watakushidomo / temaedomo (chúng tôi) 17
18 Domo là từ khiêm nhường của tachi, diễn tả số nhiều. 3 Sử dụng danh từ khiêm nhường: Ví dụ: Watashi Watakushi Temae: Tôi 4 Hình thức thêm O / Go vào danh từ, hình thức liên dụng của động từ: O / Go ~ suru / itasu Ví dụ: - Omoso desu ne. Omochi shimashou ka. (Trông có vẻ nặng nhỉ. Tôi xách giùm có được không) - Koko ni atena wo kaite kuremasen ka. (Xin hãy ghi địa chỉ vào chỗ này) Hai, okaki shimasu. (Vâng, tôi sẽ ghi) O / Go ~ moshiageru Ví dụ: - Oyorokobi moshiagemasu. (Xin chúc mừng) - Hisaisha no kata niwa kokoro kara omimai moshiageru to tomo ni. Ichi nichi mo hayaku seijou na seikaku ni modoremasu yo gokinen moshiagemasu. (Cùng với việc đi thăm những người bị tai nạn hỏa hoạn, tôi cầu nguyện cho học sớm trở lại với cuộc sống bình thường) O / Go ~ itadaku Ví dụ: - Chotto omochi itadakereba, sugu onaoshiitashimasu. (Nếu được anh chờ cho một chút, tôi sẽ sửa liền) - Shizen kankyo wo hogo suru tame no undo ni gosando itadakereba saiwai ni zonjimasu. (Chúng tôi rất là sung sướng nếu được anh tán thành cho cuộc vận động bảo vệ môi trường thiên nhiên) O / Go ~ negau Ví dụ: - Machigai wa nai to omoimasu ga, nen no tame oshirabe negaimasu. (Tôi nghĩ là không có gì sai, nhưng để cho chắc xin ông hãy kiểm tra) 18
19 - Myocho gozen shichi ji kara gozen juuji made, denki kouji no tame teiden shimasu kara gochuui negaimasu. (Từ 7 giờ đến 10 giờ sáng ngày mai sẽ cúp điện vì công trình sửa điện, xin mọi người hãy chú ý) 5 Những biểu hiện khiêm nhường khác: O / Go ~ ni azukaru Ví dụ: - Honjitsu wa sensei no otaku e omaneki ni azukarimashita. (Hôm nay tôi được mời đến nhà thầy giáo) - Honjitsu wa goshotai ni azukari, arigato gozaimasu. (Tôi rất cám ơn khi được ông mời ăn hôm nay) O / Go ~ wo sashiageru Ví dụ: - Nochi hodo odenwa wo sashiageyo to omotte orimasu. (Tôi định gọi điện thoại cho ông sau) - Otegami wo itadaki nagara, nagai koto ohenji mo sashiagezu, taihen shitsurei itashimashita. (Nhận được thư của ông, trong một thời gian dài tôi không hồi âm, tôi thật là thất lễ) O / Go ~ wo aogu Ví dụ: - Jiken no shori nitsuite goshiji wo aogitai to zonjimasu. (Mong ngài hãy chỉ cho tôi cách xử lý sự việc) - Kono mondai ni kanshi, iroiro to gokyoji wo aogitaku, yoroshiku onegai moshiagemasu. (Liên quan đến vấn đề này, xin ngài chiếu cố và chỉ giáo thật nhiều cho tôi) Iru Oru: ở Ví dụ: - Ashita wa gozaitaku deshou ka. (Ngày mai anh có ở nhà không) Gozenchu wa orimasu ga, gogo wa orimasen. (Suốt buổi sáng thì tôi ở nhà nhưng buổi chiều thì không) 19
20 Suru Itasu: làm Ví dụ: - Kono yona renshu wa mainichi nasarun desu ka. (Ngày nào anh cũng luyện tập như thế này phải không) Hai, ame sae furanakereba mainichi itashimasu. (Vâng, chỉ cần trời không mưa thì tôi làm mỗi ngày) Ngoài ra, còn có các hình thức biểu hiện khác như: Omou Zonjiru (nghĩ rằng, cho rằng), Taberu / Nomu Itadaku (ăn / uống), Iku / Kuru Mairu (đi / đến), Iu Moshiageru (nói với người trên) / Mosu (nói) Cách nói thêm O / Go vào danh từ và tính từ: Cách sử dụng O / Go: 1 Sử dụng O / Go khi nói đến trạng thái, đồ vật, hành động của người nghe, người lớn tuổi và người được tôn kính (cách nói tôn kính) Ví dụ: - Goryoshin mo gokyodai mo ogenki da tonokoto, nanyori to zonjimasu. (Nghe nói rằng song thân và huynh đệ của ông đều khỏe mạnh, thật không còn gì bằng) Từ nguyên gốc trong ví dụ trên là: Ryoshin (song thân - cha mẹ); kyodai (anh chị em); genki (khỏe mạnh): đây là những từ chỉ người than và những sự việc liên quan đến người nghe nên sử dụng cách nói tôn kính bằng cách thêm O / Go vào phía trước. - Oisogashi chu wo wazawaza oide itadakimashite, arigato gozaimasu. (Trong lúc bận rộn mà được ông đến cho, tôi thành thật cám ơn) Từ nguyên gốc của ví dụ trên là tính từ Isogashi (bận rộn). Khi muốn thể hiện ý kính trọng và biết ơn với người nghe thì sẽ thêm tiếp đầu ngữ O vào phía trước tính từ này. Vì đây là tính từ chỉ trạng thái của người nghe nên được thể hiện bằng cách nói tôn kính. 2 O / Go được sử dụng khi những đồ vật, hành động của người nói có liên quan đến người nghe, người lớn tuổi hơn và người đáng tôn kính (cách nói khiêm 20
21 nhường). Ví dụ: - Sensei no atatakai goshido no okage de, kodomo mo buji waseda daigaku ni nyugaku dekimashite, orei no moshiage yo mo gozaimasen. (Nhờ sự chỉ bảo tận tình của thầy mà con tôi đã có thể vào trường đại học Waseda, tôi thành thật cám ơn thầy) Orei là cách nói thể hiện sự kính trọng người nghe của từ gốc Rei (cảm ơn, cảm tạ). Vì đây là tấm lòng cảm ơn của người nói muốn thể hiện với người nghe một cách trực tiếp nên được sử dụng với tiếp đầu ngữ O. - Jitsu wa onegai ga aru no desu ga, honjitsu sensei no kenkyushitsu no ho e ojamashitemo yoroshi deshou ka. (Thật sự em muốn thỉnh cầu thầy, hôm nay em đến làm phiền thầy ở phòng nghiên cứu có được không ạ?) Hành động Onegai (nhờ vả) và Ojamashimasu (làm phiền) là hai hành động của người nói muốn người nghe cho phép và chấp nhận. Do đó, đây được coi là những hành động có liên quan trực tiếp đến người nghe nên được sử dụng ở hình thức tôn kính Quy tắc thêm O / Go vào các từ: 1 Thêm O vào Hòa ngữ (những từ có gốc Nhật) Ví dụ: Otokoro Okangae Omaneki Oshirase (nơi, chỗ) (sự suy nghĩ) (sự mời) (thông tin) Otsutome Onozomi Otsuki Oyurushi (công tác) (nguyện vọng) (sự đến) (sự tha thứ) Lưu ý: có một vài trường hợp tuy là Hòa ngữ nhưng không được thêm vào chữ O như Gohiiki (sự ưu ái), Goyukkuri (thong thả, từ từ), Gomottomo (hợp lý, chính đáng) 2 Thêm Go vào Hán ngữ (những từ đọc bằng âm Hán tự): Ví dụ: Gojusho (địa chỉ), gohairyo (quan tâm), goiken (ý kiến), goshotai (sự mời), goshitsumon (câu hỏi), gokibo (nguyện vọng), gokyoryoku (hợp tác) 21
22 3 Thêm O vào những từ Hán có ý nghĩa Hán ngữ thấp: Ocha (trà), otaku (nhà), obon (lễ vu lan), oniku (thịt) Những từ được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, cho dù là từ Hán cũng thêm O Ví dụ: Oryori (món ăn), obento (cơm hộp), oshokuji (thức ăn), odenwa (điện thoại), ojikan (thời gian), ofuro (nhà tắm), osewa (sự giúp đỡ, chăm sóc) Lưu ý: Hai từ sau được dùng cả O và Go Ohenji / Gohenji: hồi âm, trả lời Okazoku / Gokazoku: gia đình Theo nguyên tắc thì không được thêm O / Go vào từ ngoại lai (từ nước ngoài) nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ: Osoosu (nước sốt), ozubon (cái quần), obiru (bia) Những trường hợp không thêm O / Go Đối với những từ ngoại lai: Ví dụ: Oerebeta (thang máy), okurisumasu (lễ Noen), obata (bơ) Đối với những từ dài: Ví dụ: Ojagaimo (khoai tây), okomorigasa (cây dù), ohorenso (rau bina) Đối với những từ bắt đầu là O Ví dụ: Oomoshiroi (thú vị), Ooishi (ngon), oojisan (chú), oookii (to, lớn) Đối với những vật công cộng, hiện tượng tự nhiên. Ví dụ: Oame (mưa), oyuki (tuyết), o / go eki (nhà ga), o / go kaisha (công ty) Đối với những từ mỉa mai, khinh miệt và có phẩm chất xấu Ví dụ: Omanuke (ngu dốt), oguzu (rác, phế thải) Cách nói lịch sự: Khái quát: Cách nói lịch sự là cách nói diễn đạt ý tôn kính với người nghe thông qua cách nói sự vật, sự việc một cách lịch sự. Cách nói lịch sự còn được kết hợp với cách nói 22
23 tôn kính và cách nói khiêm nhường như itadakimasu - nhận, zonjimasu - biết. Vì lẽ đó mà cách nói lịch sự còn là cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp. Ví dụ: Cách nói Anata mo irassharu (Bạn cũng đi chứ?) thường được nghe trong giới nữ. Từ tôn kính irassharu được sử dụng ở đây là đúng nhưng mà nếu nói như thế này với người lớn hơn thì sẽ thất lễ. Bởi vì động từ tôn kính irassharu vẫn để ở hình thức nguyên mẫu (futsukei) chưa được chia thành irasshaimasu (jishokei hình thức masu - thể tự điển). Thêm vào đó, cuối câu không có nghi vấn từ ka nên người nói phải lên giọng để diễn tả câu hỏi. Vì thế, cách nói này chỉ nên dùng với bạn bè, đồng nghiệp, những người ngang hàng với người nói. Nếu muốn nói với người lớn hơn nên chuyển sang cách nói lịch sự, tôn kính bằng cách chia động từ irassharu thành irasshimasu và thêm nghi vấn từ ka ở cuối câu như: Anata mo irasshaimasu ka (Anh cũng đi chứ) sẽ diễn tả ý tôn kính đồng thời thể hiện được tính lịch sự. Trường hợp câu: Yamada san mo gozonji desu ka (Anh Yamada cũng biết chứ) thì tính chất cũng giống như trường hợp trên. Bản thân từ Gozonji (biết) là từ tôn kính nếu sử dụng cách hỏi này với người cùng tuổi thì không có vấn đề nhưng đối với người lớn tuổi thì phải nói lịch sự hơn: Yamada san mo gozonji desho ka. Cách nói thay desu bằng desho sẽ gây ấn tượng cho đối tượng giao tiếp. Tóm lại, cách nói và từ ngữ lịch sự sẽ làm cho câu văn, lời nói trở nên nhẹ nhàng, tao nhã hơn cách nói thông thường. Khi kết hợp với cách nói tôn kính hoặc cách nói khiêm nhường sẽ làm cho lời nói trở nên vừa lịch sự vừa kính trọng, góp phần làm cho kính ngữ càng thêm phong phú Hình thức thể hiện: Thêm vào trợ động từ desu, masu Ví dụ: - Korekara dekakemasu. (Từ bây giờ tôi sẽ đi ra ngoài) - Yamdasan wa totemo shinsetsu desu. (Ông Yamada rất tử tế) 23
24 Dùng động từ degozaru thay vì dearu hay desu Ví dụ: - Watakushi ga Yamada degozaimasu. (Tôi là Yamada) Sử dụng hình thức từ lịch sự: Ví dụ: Tadaima (bây giờ), ainiku (xin lỗi), honjitsu (hôm nay), hai (vâng), osore irimasu (xin lỗi), shitsurei shimasu (xin thất lễ), makoto ni (rất, thật sự), hajimemashite (lần đầu tien được gặp ông bà) Những từ lịch sự này sẽ được dùng chung với cách nói tôn kính, khiêm nhường để làm tăng tính trang trọng, lịch sự cho câu nói Đối tượng sử dụng kính ngữ Mối quan hệ trong ngoài: Nguồn gốc ý thức về mối quan hệ trong ngoài trong xã hội Nhật Bản có từ rất lâu. Nếu xét về phương diện địa lý thì có thể nói Nhật Bản là một đảo quốc nằm cách xa đất liền, xung quanh được bao bọc bởi biển. Chính vì thế trong suốt một thời gian dài, mọi hoạt động trong xã hội Nhật Bản đều không giao lưu với thế giới bên ngoài. Do đó, trong hoàn cảnh này đã hình thành nên tính cộng đồng mạnh mẽ một cách tự nhiên. Từ đó tạo nên ý thức về mối quan hệ bên trong bên ngoài. Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng đối với người Nhật thì: Người trong bao gồm: người trong gia đình, người trong công ty và những người trong nhóm của người nói. Mối quan hệ bên trong được xác định bằng cách lấy người nói làm trung tâm. Do đó, những người có quan hệ gần nhất với người nói như con cái, anh chị em sẽ là những người thuộc nhóm uchi (bên trong). Người ngoài bao gồm: người không cùng huyết thống, người không quen thân, người lạ, người của công ty khác, người của nhóm khác. Khi nói chuyện với nhau và khi lấy những người này làm đề tài nói chuyện thì đối với người ngoài phải sử dụng cách nói tôn kính, còn đối với người trong, bao gồm cả người nói phải sử dụng cách nói khiêm nhường. 24
25 Mối quan hệ trên - dưới: Người lớn tuổi - người nhỏ tuổi Cấp trên- cấp dưới Người nhỏ tuổi, cấp dưới phải sử dụng cách nói tôn kính đối với người lớn tuổi, người có tuổi tác cao, cấp trên và những người có địa vị cao. Khi nói về bản thân và những hành động, sự việc liên quan đến người nói thì nhất thiết phải sử dụng cách nói khiêm nhường Mối quan hệ thân sơ: Những người trong gia đình, bạn bè thân thiết không cần phải sử dụng kính ngữ. Những người không quen thân, những người không quen biết nhiều, người lần đầu tiên gặp mặt phải sử dụng kính ngữ. 1.2 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Việt Khái quát về tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt vẫn được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất. Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, cùng các dấu thanh để viết. Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập quốc. Có sáu âm sắc chính là: không sắc, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Bắt đầu từ khi Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam, tiếng Việt có rất nhiều âm mà không có 25
26 trong tiếng Trung Hoa chẳng hạn như chữ đ. Trong quá trình phát triển đã du nhập thêm những từ ngữ Hán cổ như đầu, gan, ghế, ông, bà, cậu..., từ đó hình thành nên hệ thống Hán - Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác). Nói chung tỉ lệ vay mượn tiếng Hán trong tiếng Việt rất lớn (khoảng 50%) nhưng đại đa số những từ đó đều đã được Việt hóa cho phù hợp với nhận thức và thói quen của người Việt. Do vậy tiếng Việt vừa giữ được bản sắc riêng của mình trước ảnh hưởng của văn hóa Hán, vừa lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính trong tiếng Việt Ý nghĩa Theo từ điển tiếng Việt thì tôn có nghĩa là tôn sùng, tôn trọng, kính có nghĩa là kính trọng. Do đó, cách nói tôn kính là cách nói vô cùng kính trọng đối tượng giao tiếp. [7;1999:1358] Trường hợp sử dụng 1 Trong phạm vi gia đình Cách xưng hô trong họ: Cách xưng hô trong họ phụ thuộc vào sơ đồ gia phả. Khi xem sơ đồ gia phả toàn họ mới biết được: Mình thuộc đời thứ mấy, đời trên mình là những ai, mình thuộc chi nào, nhánh nào, bằng vai với mình trong họ là những ai? Có sơ đồ gia phải mới phân biệt được thế thứ trong họ, theo đó mỗi người tự xác định được quan hệ trong nội tộc mà xưng hô cho đúng, chú, bác, anh, em... Xưng hô trong nội tộc khác với xưng hô ngoài xã hội. Ngoài xã hội dựa theo tuổi tác và chức vụ địa vị, trong gia tộc dựa theo thế thứ, nhưng khi giao thiệp với từng cá nhân cụ thể lại phải kết hợp theo cách xưng hô ngoài xã hội theo quan hệ tuổi tác. Cách xưng hô với người trên: Từ lâu đời, người Việt có truyền thống lễ phép và lịch sự trong cách xưng hô. Con cháu có lễ phép và có giáo dục thường biết đi thưa 26
27 về trình. Khi nói chuyện với bố mẹ, ông bà, con cháu thường dùng cách thưa gửi và gọi dạ bảo vâng chứ không bao giờ nói trống không với người trên. Người Việt thường dùng tiếng thưa trước khi xưng hô với người ở vai trên, chẳng hạn như: Thưa mẹ con đi học. Thưa ông bà con đi học về. Thưa cô con về. Thưa ba, ba bảo con điều chi ạ? Trong cách xưng hô với người ở vai trên thì lưu ý là không bao giờ được gọi tên tục (tên cha mẹ đặt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng, và chú bác. Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia đình. Nếu ông có tên là Hùng, ba có tên là Chính, và chú có tên là Tài chẳng hạn, ta chỉ nói là: Cháu mời ông bà xơi cơm, con mời ba má dùng trà, cháu mời cô chú lại chơi. Đối với người trên, không được dùng tiếng cái gì để hỏi lại một cách trống không vì đó là từ vô lễ, không lịch sự. Do đó, khi nói chuyện với người lớn tuổi, người nói thường thay từ cái gì bằng từ điều chi cho lịch sự và lễ độ. Thay vì hỏi: Cái gì? hay Ba bảo con cái gì? thì hỏi: Ba bảo con điều chi ạ?. Từ cái gì chỉ sử dụng với người ngang hàng. Thí dụ: Anh hỏi tôi cái gì? hay Chị nói cái gì vậy? Khi trả lời bố mẹ hay ông bà, con cháu thường dùng chữ dạ, ạ, vâng ạ, vâng. Nếu người mẹ gọi con: Tư ơi? thì khi nghe thấy, người con phải thưa: Dạ. Nếu người mẹ nói tiếp: Về ăn cơm! người con phải nói: Vâng (người Bắc) hay Dạ (người Nam). Người ta còn dùng chữ ạ ở cuối câu để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép. Thí dụ: Chào bác ạ!, Vâng ạ! Xưng hô vợ chồng: Tình vợ chồng người Việt rất đằm thắm, họ yêu nhau với tất cả chân tình, đối đãi với nhau rất lịch sự và kính trọng. Những cặp vợ chồng có giáo dục không bao giờ gọi nhau bằng mày và xưng tao. Họ tìm những lời lẽ dịu dàng đầy tình tứ yêu thương để gọi nhau. Chính vì thế mà tiếng xưng hô giữa vợ chồng người Việt nhiều hơn hẳn tiếng xưng hô của vợ chồng người Tây phương. Những cặp vợ chồng có giáo dục không bao giờ chửi thề và văng tục với nhau, nhất là trước mặt bạn bè. Tiếng xưng hô với vợ gồm có: em, cưng, mình, bu nó, má, má nó, má thằng cu, mẹ, mẹ nó, nhà, bà, bà xã, bà nó, ấy, mợ, mợ nó, đằng ấy Tiếng 27
28 xưng hô với chồng gồm có: anh, cưng, anh nó, ba, ba nó, bố, bố nó, bố mày, bố thằng cu, đằng ấy, ông xã, cậu, cậu nó, ông, ông nó, ấy, mình 2 Ngoài xã hội Lễ phép trong giao tiếp: Trong các mối quan hệ ngoài xã hội, giao tiếp lễ phép, lịch sự đúng mực đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố các mối quan hệ con người với nhau. Chẳng hạn, khi gặp người lớn tuổi trên đường thì cũng cần lễ phép chào hỏi bằng các câu như Cháu chào ông / bà ạ! hay Ông / bà đi đâu đấy ạ?. Trong mỗi câu chào có thêm từ ạ ở cuối câu làm tăng tính lễ phép, lịch sự của người nói đối với người nghe. Chính vì thế người nghe sẽ cảm thấy được kính trọng và đề cao trong cách giao tiếp của người nói. Giao tiếp lịch sự đúng mực không chỉ được thể hiện bằng cách thêm những từ mang sắc thái lịch sự như thưa, ạ, vâng mà còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ trong cách thể hiện cũng như những ứng xử của người nói trong suốt quá trình giao tiếp. Mức độ xưng hô lễ phép trong giao tiếp chỉ có thể đạt được khi người nói thể hiện thái độ chân thành, kính trọng đối với người nghe. Nếu người nói không có thái độ tôn trọng đối tượng giao tiếp thì cho dù có dùng những hình thức xưng hô lịch sự đến đâu chăng nữa cũng không đạt được cái gọi là lễ phép trong giao tiếp. Lịch sự trước đám đông: Khi đối tượng nghe được mở rộng không chỉ là một hoặc vài người mà là cả một tập thể thì yêu cầu về sự lễ phép, lịch sự trong giao tiếp càng được đòi hỏi nhiều hơn nữa. Chính vì lý do này mà người nói cần linh hoạt lựa chọn những hình thức xưng hô trong giao tiếp cho đúng chuẩn, phù hợp với tất cả đối tượng nghe mà không làm mất lòng hay có ý xúc phạm ai. Bởi vì truyền thống ngàn xưa của người Việt là luôn coi trọng cái Lễ - Tiên học lễ, hậu học văn Lễ chính là những hành vi văn minh lịch sự của người có văn hóa. Biết giữ lễ khiến cho cuộc sống tốt đẹp, trật tự, an toàn và hạnh phúc hơn Đặc trưng cơ bản trong cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt Ý nghĩa 28
29 Theo từ điển tiếng Việt thì: khiêm có nghĩa là khiêm tốn, nhường có nghĩa là nhún nhường. Do đó, cách nói khiêm nhường là cách nói mang ý nghĩa khiêm tốn, nhún nhường tức là trong quá trình giao tiếp, người nói luôn có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình là hơn người. [7;1999:661] Trường hợp sử dụng 1 Trong phạm vi gia đình Xưng hô khiêm nhường mang tính phổ biến trong gia đình, gia tộc người Việt hiện nay. Chẳng hạn, khi bố / mẹ xưng hô với con cái dùng các cặp từ xưng hô như: bố - con, mẹ - con là họ đã nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực và thân thiện. Khi con cái đã trưởng thành, bố / mẹ thường chuyển sang xưng hô với con bằng các cặp từ xưng hô: tôi anh, tôi - chị là họ đã nhấn mạnh đến sự bình đẳng hơn (khiêm) nhưng cũng có khoảng cách trong quan hệ với con cái. Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt không chỉ được thể hiện phong phú bằng các hình thức từ xưng hô mà còn được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp, các cấu trúc câu, sự sắp xếp trật tự từ Chẳng hạn, khi nói chuyện với người ngoài về vợ (chồng) hoặc những người trong gia đình của người nói thì nên cân nhắc lựa chọn những ngôn từ thích hợp để thể hiện sự khiêm tốn không khoa trương. Tiếng gọi vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: nhà tôi, bà nhà tôi, má tụi nhỏ, má sắp nhỏ, má bày trẻ, bà xã, bà xã tôi, và vợ tôi Tiếng gọi chồng trong khi nói chuyện với người khác gồm: nhà tôi, ông nhà tôi, ba tụi nhỏ, ba sắp nhỏ, ba bày nhỏ, ông xã, ông xã tôi, chồng tôi, anh ấy Trong giao tiếp, nếu như đề tài nói có đề cập đến vợ (chồng) của người nói với hàm ý khen ngợi thì người nói cũng nên sử dụng những từ ngữ khiêm tốn nhằm không quá đề cao giá trị của nhân vật được nhắc đến. Chẳng hạn, khi được người nghe khen ngợi về vợ mình như Chà, chị nhà khéo tay quá. Nấu món gì cũng ngon thì khi đó người nói không nên trả lời lại là Vâng, nhà em giỏi lắm. Cô ấy khéo tay vô cùng. mà nên khiêm tốn trả lời là Dạ, anh (chị) quá khen. Nhà em còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa. Hoặc 29
30 khi nhận được lời khen về các con trong gia đình như Các con của anh chị giỏi quá. Các cháu vừa học giỏi lại biết giúp đỡ bố mẹ thì người nói cũng nên trả lời khiêm tốn là Cảm ơn anh chị quá khen. Các cháu còn phải học hỏi và cố gắng nhiều hơn nữa. 2 Ngoài xã hội Đạo lý của người Việt Nam đòi hỏi sự khiêm tốn tự hạ mình trong ứng xử và nói năng. Điều này có thể có những biểu hiện qua lời, cụ thể là những từ xưng hô, những từ tôn vinh, cấp độ lời nói, các nghi thức lời nói. Trong trường học, cặp xưng hô hợp chuẩn của giáo viên với học sinh, sinh viên ít tuổi hơn thường là: thầy em, cô em, thầy tên riêng, cô tên riêng, thầy các em, cô các em, nhưng trong lớp học hiện nay ở nhiều trường, giáo viên thường xưng hô một cách khiêm nhường với học sinh, sinh viên như: tôi các em, tôi các anh, tôi các chị, tôi các bạn, tôi tên riêng Xưng hô khiêm nhường là một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt. Tuy nhiên, trong giao tiếp xưng hô khiêm nhường quá mức sẽ đặt người đối thoại vào tình thế khó xử và trong nhiều trường hợp họ buộc phải phản đối cách xưng hô ấy. Đổi lại xưng hô không khiêm nhường dễ bị đánh giá là thiếu lễ độ, làm mất đi thiện cảm từ phía người đối thoại. Chẳng hạn, học trò tự xưng là tôi với thầy cô giáo là không khiêm nhường. Do đó, quá chú ý đến sự khiêm nhường hoặc không khiêm nhường trong xưng hô đều có ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả trong tương tác xã hội. Cho nên xưng hô khiêm nhường cũng cần phải có chừng mực mới đạt được hiệu quả mong muốn trong tương tác. Trong các mối quan hệ xã hội thì xưng hô khiêm nhường đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thông qua cách nói này mà người nghe có thể đánh giá người nói là người có tính cách như thế nào, có tạo sự tin tưởng trong quan hệ với họ hay không. Lối ứng xử khéo léo, khiêm nhường trong giao tiếp ngoài xã hội thể hiện văn hóa ứng xử của người nói. Chẳng hạn, khi phát biểu ý kiến về một vấn đề trong buổi hội thảo người phát biểu nên hạn chế những từ lộng ngôn, thể hiện cái tôi quá lớn mà 30
31 thay vào đó là sử dụng những ngôn từ khiêm nhường nhã nhặn như Tôi cho rằng, Cho phép tôi xin được phát biểu ý kiến về Mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng riêng biệt vốn có của nó, có ngôn ngữ biến đổi động từ để thể hiện mức độ về thời gian (tiếng Nhật, tiếng Anh ), có ngôn ngữ lại thêm một số từ diễn tả ý quá khứ hay hiện tại (tiếng Việt ). Đó là những nét độc đáo và đặc sắc của mỗi loại hình ngôn ngữ. Ngoài ra, thông qua ngôn ngữ có thể thấy được những nét văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc. Trong những đặc trưng của ngôn ngữ thì cách nói kính ngữ (tôn kính khiêm nhường) đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp của con người. Thông qua việc sử dụng các hình thức xưng hô có thể đánh giá chất lượng của quá trình giao tiếp. Chính vì vậy việc tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của từng cách nói này là điều cần thiết và vô cùng quan trọng. Sau khi đã tìm hiểu một vài đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt, người viết tiến hành so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng. Qua đó, phần nào có thể giúp người học tránh những ngộ nhận và hiểu lầm không đáng có khi học cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật cũng như trong tiếng Việt. 31
32 CHƯƠNG II SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CÁCH NÓI TÔN KÍNH KHIÊM NHƯỜNG GIỮA TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT 32
33 Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc. Đó là nền văn hóa với yếu tố nổi bật là việc tôn trọng và đề cao chữ Lễ. Lễ ở đây có thể hiểu là lễ nghĩa, lễ độ, lễ phép được xét trong trường hợp giao tiếp của con người trong những trường hợp cụ thể. Vì yếu tố ảnh hưởng này mà trong từng cách nói hoặc hành động của người nói hướng đến đối tượng giao tiếp cũng đều thể hiện thái độ lịch sự chuẩn mực. Phương tiện giao tiếp để thể hiện thái độ của người nói đó là những hình thức xưng hô. Đó là việc người nói lựa chọn và sử dụng từ ngữ trong từng câu nói để thể hiện thái độ, tình cảm đối với người nghe và đối tượng giao tiếp. Đối tượng giao tiếp có thể là người nghe hoặc nhân vật được người nói nhắc đến trong đề tài nói. Do đó, tùy vào từng trường hợp giao tiếp mà người nói sử dụng những hình thức xưng hô khác nhau. Đó có thể là cách nói thân mật, ngắn gọn nếu là mối quan hệ bạn bè hoặc những người thân thiết. Và đó còn là cách nói lịch sự, kính trọng nếu đó là người lớn tuổi, cấp trên hoặc những người không quen biết Trong trường hợp giao tiếp mà đối tượng là những người cần được tôn kính và bản thân người nói cũng muốn khiêm tốn hành động và những sự việc liên quan đến bản thân thì sử dụng hình thức xưng khiêm hô tôn (bản thân mình thì khiêm nhường, liên quan đến người khác thì tôn kính). Cách nói tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt thể hiện nét văn hóa giao tiếp truyền thống coi trọng mối quan hệ con người của hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản. Những hình thức thể hiện này tùy vào mỗi loại hình ngôn ngữ tồn tại những điểm tương đồng và một số điểm khác biệt. Việc nhận ra những điều này sẽ là một trong những yếu tố quan trọng đối với người Việt khi học tiếng Nhật. Qua đó, người học có thể dựa vào những điểm tương đồng để có cách sử dụng kính ngữ thích hợp, tìm và so sánh những điểm khác biệt để tránh những cách sử dụng kính ngữ nhầm lẫn. 33
34 2.1 Sự tương đồng trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt Sự tương đồng trong cách nói tôn kính Đối tượng giao tiếp 1 Mối quan hệ trên dưới: Địa vị: cấp trên cấp dưới; giáo viên học sinh Tuổi tác: người trên người dưới Sự quan hệ bình đẳng với nhau và sự tôn kính lẫn nhau dường như đã trở thành những yếu tố cơ bản trong cách đối xử và trong các mối quan hệ con người. Nhưng nếu ý thức được vị trí của mình và đối tượng giao tiếp có sự khác nhau thì nhất thiết phải bổ sung thêm những yếu tố để thể hiện sự khác nhau đó. Yếu tố được đề cập đến ở đây là kính ngữ. Trong đó, cách nói tôn kính được sử dụng để giao tiếp với người trên, người lớn tuổi vì nó có thể bổ sung cho sự khác nhau về địa vị xã hội và tuổi tác của người dưới đối với người trên, cấp dưới đối với cấp trên, hậu bối đối với tiền bối Ví dụ dưới đây là đoạn hội thoại giữa giáo viên và sinh viên, đây là hai đối tượng giao tiếp thuộc hai vị trí và địa vị xã hội khác nhau. Kurasumeto no taikai ga aru. Kondo kikoku suru gakusei ga iru node, raishuu no nichiyoubi ni sayonara pati wo hiraku koto ni natta. Aru gakusei wa sensei wo sasou. (Có một buổi họp lớp. Lần này vì có một sinh viên trong lớp về nước nên sẽ tổ chức một buổi tiệc chia tay vào chủ nhật tuần sau. Một học sinh nọ đã mời thầy giáo cùng tham dự). Học sinh: Ano, sensei chotto yoroshi deshou ka (Thầy ơi, cho em làm phiền thầy một chút được không ạ?) Thầy giáo: A, douzo. (Ừ, em nói đi) 34
35 Học sinh: Jitsu wa raishuu no nichiyoubi, uchi de pati wo shiyou to omotteirun desu. (Thưa thầy, thực ra thì vào ngày chủ nhật tuần sau lớp em có tổ chức một bữa tiệc họp lớp tại nhà em ạ). Thầy giáo: A, ii desu ne. (Thế à, được đấy nhỉ). Học sinh: De, sensei, yoroshikattara, oideitadakenai ka to omoimashite. Mousugu kuni he kaeru hito mo imasu shi (Thưa thầy, nếu được, chúng em mời thầy đến dự chung với chúng em ạ. Bởi vì hôm đó sẽ có bạn về nước ạ ). Thầy giáo: Nichiyoubi desu ne. Ee, daijoubu desu yo. (Chủ nhật à, được đấy, thầy sẽ đến dự). Học sinh: Aa, yokatta desu. Minna yorokobu to omoimasu. De, sensei niwa 6 ji goro ni oideitadakitaindesu ga. (Ôi, như vậy thật tốt quá. Em nghĩ chắc chắn các bạn sẽ rất vui. Thưa thầy, nếu được, thầy vui lòng đến vào khoảng sáu giờ được không ạ?). Thầy giáo: Wakarimashita. Nanika osake ka otsumami demo motte ikou kana. (Thầy biết rồi. Có lẽ thầy sẽ mang một ít rượu và thức ăn nhẹ tới nhỉ). Học sinh: Ieie, okizukai naku. Sore dewa tanoshimi ni shite orimasu. (Ôi không cần đâu thầy ơi, thầy đừng bận tâm. Có thầy đến tham dự là chúng em rất vui rồi ạ). Trong đoạn hội thoại trên, mối quan hệ được thiết lập là mối quan hệ giữa thầy giáo và học sinh. Theo đó, thầy giáo là người có vị trí cao hơn học sinh nên khi nói chuyện, học sinh nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính. Chẳng hạn, yoroshii, oideni naru, okizukai là cách nói tôn kính của ii (được, tốt), kuru (đến), kizukai (lo lắng, quan tâm). Còn khi nói về hành động hay trạng thái của mình thì học sinh sử dụng cách nói khiêm nhường như tanoshimi ni shite orimasu (khiêm nhường của động từ tanoshimi ni shite imasu) mong đợi, mong chờ. Trong tiếng Việt là các hình thức sử dụng như: thưa thầy, được không ạ, ạ là những hình thức biểu đạt 35
36 cách nói tôn kính của học sinh với thầy giáo. Tương tự, trong các mối quan hệ trên dưới khác như nhân viên - cấp trên, người dưới - người trên thì vẫn phải sử dụng cách nói tôn kính. 2 Mối quan hệ trong ngoài: Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng của Nho giáo, đạo Khổng. Do đó, từ ngàn xưa trong xã hội Nhật Bản đã hình thành nên những tập đoàn. Tập đoàn không phải là tập hợp những nhóm người khác nhau mà đó là tập hợp của những cá thể tồn tại tương hỗ với nhau. Từ đó, tạo ra ý thức tập đoàn và hình thành nên tập đoàn. Những cá nhân sẽ là một cá thể trong từng tập đoàn, vận mệnh của cá nhân đó sẽ phụ thuộc và gắn bó chặt chẽ vào sự phát triển và tồn tại của tập đoàn. Tập đoàn trong xã hội Việt Nam truyền thống được biết đến dưới khái niệm các làng hay các gia tộc (đơn vị cấu thành lớn hơn gia đình, cũng được coi là một tập đoàn). Trong làng, tính cộng đồng tạo nên sự liên kết các thành viên lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác. Vì đặc điểm này mà hình thành nên những nguyên tắc chung trong giao tiếp của hai quốc gia Việt - Nhật. Điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ là cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp. Nếu xét trong phạm vi mối quan hệ trong ngoài thì nếu gặp người lớn tuổi, bậc bề trên không thuộc tập đoàn hay làng của người nói thì sẽ sử dụng những hình thức nói tôn kính, lịch sự. Chẳng hạn, khi có khách đến chơi (người khách không phải là thành viên trong gia đình và đương nhiên không cùng một tập đoàn với người nói) thì người nói sẽ mời nước: Ocha, douzo meshiagatte kudasai (Xin mời quý khách dùng trà). Đây là cách nói tôn kính người khách trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Cách nói này sử dụng những danh từ tôn kính (ocha trà ngon, quý khách ) và động từ tôn kính (meshiagatte kudasai - uống, xin mời, dùng ). Ngược lại, cách nói thể hiện thái độ khinh miệt, không tôn kính người khách sẽ là: Nonde kudasai! (Uống đi). Cách nói này sẽ làm người khách cảm thấy không hài lòng và đánh giá người nói là người không được dạy bảo đàng hoàng, không có văn hóa giao tiếp cũng như không hiểu những nguyên tắc giao tiếp cơ bản. 36
37 3 Mối quan hệ thân sơ: Thân trong nghĩa Hán Việt chỉ mối quan hệ con người thân thiết, thân mật. Sơ chỉ mối quan hệ con người không thân thiết, người lần đầu tiên gặp mặt hay những người chỉ có mối quan hệ xã giao thông thường. Dựa theo ý nghĩa này mà trong cách giao tiếp của người Nhật và người Việt xét trong phạm vi cách nói tôn kính cũng có những điểm tương đồng. Do đó, trong quá trình giao tiếp, nếu đối tượng giao tiếp là người lần đầu tiên gặp mặt hoặc không quen thân thì người Nhật và người Việt thường lựa chọn những hình thức nói tôn kính, lịch sự. Việc truyền đạt ý tôn kính của người nói đến người nghe là điều cơ bản trong kính ngữ. Đối với những người mới gặp lần đầu, những người giao thiệp trong công việc, cho dù là người cùng tuổi hay nhỏ tuổi hơn nếu không sử dụng cách nói biểu hiện sự tôn kính thì sẽ bĩ cho rằng thất lễ. Nếu đối tượng giao tiếp là người lớn tuổi hơn thì nhất thiết phải nói tôn kính. Chẳng hạn, khi hỏi về công ty của khách hàng thì hình thức câu hỏi sẽ là: Sumimasen ga, kisha wa dochira ni gozaimasu ka? (Xin phép cho tôi hỏi, quý công ty ở đâu ạ?. Trong đó, những hình thức từ tôn kính như kisha quý công ty, gozaimasu có ở ~. Nếu nhân viên hỏi bằng hình thức câu thông thường, thậm chí là thân mật, suồng sã như Kaisha wa doko? (Công ty ở đâu vậy?) thì sẽ bị cho là không lịch sự, không có thái độ tôn trọng người khác. Như vậy, sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín và bộ mặt của công ty. Chính vì vậy, văn hóa giao tiếp của nhân viên (văn hóa kinh doanh) đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của công ty Hoàn cảnh giao tiếp Cách nói tôn kính là cách nói thể hiện sự kính trọng những người có tuổi tác cao, những người có vị thế lớn, những người có uy tín trong mối tương quan với người nói. Do đó, người nói phải biết tính toán, lựa chọn những từ ngữ xưng hô trang trọng, hợp chuẩn phù hợp với vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ thân sơ giữa người nói và người đối thoại. Nếu sử dụng những cách nói không lễ phép với người vai bậc trên, những người có uy tín dễ dẫn đến thái độ vô lễ (hay xấc xược, 37
38 hỗn láo). Trong quá trình giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cách xưng hô của các nhân vật giao tiếp. Bởi vì căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, người nói có thể lựa chọn cách xưng hô tôn kính, trang trọng (hội nghị, tọa đàm ) hay cách xưng hô thân mật (bạn bè, người thân ). Yếu tố này được thể hiện khá rõ trong cách nói tôn kính của tiếng Nhật và tiếng Việt. Ví dụ: Trong trường hợp nhân viên Yamada lần đầu tiên đến thăm nhà của trưởng phòng. Yamada: Gomenkudasai (Yamada: Xin lỗi, có ai ở nhà không ạ?) Tanaka kacho fujin: A, Yamada san desu ne. Hajimemashite. Tanaka no kanai desu. (Phu nhân trưởng phòng Tanaka: A, anh Yamada. Xin chào. Tôi là vợ của Tanaka) Yamada: Hajimemashite. Honjitsu wa omanekikudasatte, arigatou gozaimashita. (Yamada: Xin chào. Rất cám ơn vì lời mời của ông bà) Tanaka kacho fujin: Shujin ga istumo osewa ni natte orimasu. Saa, douzo, oagarikudasai. (Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Tôi cũng rất cám ơn vì anh đã quan tâm đến chồng tôi. Xin mời vào). Tanaka kacho fujin: Douzo okakekudasai (Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin mời anh ngồi) Yamada: Arigatou gozaimasu. Ano, kore tsumaranaimono desu ga, douzo (Yamada: Cám ơn. Nhân đây tôi cũng có chút quà mọn biếu anh chị) Tanaka kacho fujin: Goteinei ni doumo. Jaa, itadakimasu (Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin cảm ơn vì sự chu đáo của anh. Vâng, tôi xin nhận).. 38
39 Tanaka kacho fujin: Kyou wa takusan ryouri wo tsukurimashitara, douzo enryonasanaide meshiagatte kudasai. Yamada: Enryonaku itadakimasu. Okusan ga otsukuri ni nattan desu ka? (Yamada: Vâng, tôi xin phép được dùng. Quý phu nhân đã làm thức ăn phải không ạ? ). Đoạn hội thoại trên được xét trong hoàn cảnh giao tiếp là cuộc gặp gỡ lần đầu tiên tại nhà của trưởng phòng. Vì trưởng phòng là cấp trên nên trong mọi lời nói và hành động của cấp dưới (anh Yamada) đều mang sắc thái và ý nghĩa tôn kính. Ngoài ra trong một số câu nói còn sử dụng cách nói khiêm nhường cho hành động của bản thân (itadakimasu, tsumaranai mono desuga ) để tôn kính trưởng phòng và phu nhân trưởng phòng một cách gián tiếp. Bên cạnh đó, người vợ của trưởng phòng cũng sử dụng cách nói tôn kính anh Yamada. Vì đây là lần đầu tiên hai người gặp mặt, hơn nữa anh Yamada là người thuộc mối quan hệ bên ngoài (không thuộc gia đình). Những cách nói tôn kính được sử dụng: oagarikudasai, meshiagatte kudasai, okusan, otsukuri ni nattan desu ka.ngoài ra, trong một số hoàn cảnh giao tiếp khác như trực điện thoại, tiếp khách hàng, phát biểu thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính với đối tượng giao tiếp Thái độ của người nói Kính ngữ là một cách nói, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa bắt người sử dụng phải thốt ra thành lời. Cho dù trong lòng có tỏ ra kính trọng và có ý tôn kính đối tượng giao tiếp như thế nào đi nữa nhưng nếu không thốt ra thành lời tôn kính thì cũng không có ý nghĩa gì cả. Ngược lại cho dù người nói có sử dụng thành thạo cách nói tôn kính nhưng không thể hiện thái độ kính trọng đối tượng giao tiếp thì cách nói này cũng chỉ là cách nói ở mức độ sách vở. Cũng có trường hợp cho rằng những lời nói tôn kính của người nói cũng chỉ là giả dối để đạt được một hiệu quả giao tiếp nào đó. 39
40 Nếu nói ra những lời tôn kính, lịch sự mà nghĩ rằng như vậy là đã thể hiện sự tôn kính thì đó là một cách nghĩ sai. Vì cách nói tôn kính không đơn thuần phát huy hiệu quả giao tiếp nếu chỉ sử dụng những lời nói tôn kính một chiều. Ví dụ: Một robot có dáng dấp của con người đứng trước quầy bán hàng và nói: Irassaimase, kochira wa shoseki uriba degozaimasu. (Xin kính chào quý khách, đây là quầy sách vở). Hoặc, một cô tiếp tân phụ trách hướng dẫn khách hàng sử dụng thang máy. Trong khi mắt cô ấy không hướng về phía thang máy nhưng miệng thì luôn nói những từ tôn kính, lịch sự với khách hàng và tay chỉ về phía thang máy lần lượt hết người khách này đến người khách khác. Có người cho rằng cô tiếp tân hướng dẫn này không khác gì một robot. Lúc này khách hàng (cả trong ví dụ ở trên) cảm thấy mình không được tôn trọng và nghĩ rằng mình bị coi thường. Đây là hiệu quả ngược torng cách nói tôn kính. Lý do mà khách hàng cảm thấy họ không được tôn trọng và bị coi thường là vì những lời mà robot và cô tiếp tân nói chỉ tồn tại đơn lập. Cái thiếu ở đây là thái độ của người nói. Do đó, tuy có sử dụng lời nói tôn kính nhưng lại không đi cùng với việc biểu hiện thái độ và không có yếu tố tình cảm. Người sử dụng kính ngữ muốn biểu hiện tâm trạng tôn kính của mình với người khác chắc chắn sẽ nói ra những lời kính trọng. Trong đó, tâm trạng tôn kính rất cần thiết khi nói kính ngữ. Bởi vì trước khi nói những lời tôn kính thì người nói phải có suy nghĩ là thật lòng tôn kính đối tượng giao tiếp. Như vậy, cho dù có nói ra toàn là những lời tôn kính tuyệt vời nhưng trong lòng không có thành ý tôn kính thì không thể truyền đến người khác ý tôn kính của mình. Miệng thì nói những lời tôn kính nhưng lại không biểu hiện ý tôn kính trong giọng điệu và thái độ thì cũng không làm cho người khác cảm thấy được tôn trọng. Do đó, kính ngữ rất khó nói, vì đó là cách nói không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn thể hiện bằng cả tấm lòng. Nếu như biểu lộ ý tôn kính mà làm cho người nghe cảm thấy không hài lòng, không thoải mái thì cũng giống như câu tục ngữ của Việt Nam là Vẽ rồng mà không điểm nhãn. Câu tục ngữ có nghĩa là làm một việc gì đó nhưng chỉ đạt hiệu quả một nữa, không trọn vẹn. Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả của cách nói tôn kính lên mức tối cao, 40
41 người sử dụng không chỉ phải thành thạo cách sử dụng mà còn phải thể hiện bằng thái độ tôn kính chân thành. Như vậy sẽ tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau Sự tương đồng trong cách nói khiêm nhường Đối tượng giao tiếp 1 Mối quan hệ trên dưới: Địa vị: cấp trên cấp dưới; giáo viên học sinh Tuổi tác: người trên người dưới Trong quá trình giao tiếp giữa cấp trên và cấp dưới, người trên và người dưới, thầy giáo với học sinh thì người nói phải ý thức được bản thân đang ở vị trí nào trong mối quan hệ đã được thiết lập. Từ đó, có sự lựa chọn các hình thức giao tiếp phù hợp để làm tốt đẹp các mối quan hệ. Bởi vì mối quan hệ trên - dưới là một trong những mối quan hệ thường gặp trong xã hội. Đặc biệt, nó được thể hiện khá rõ trong cách sử dụng các hình thức giao tiếp với việc biểu hiện cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường của người nói. Theo đó, người nói sẽ sử dụng cách nói tôn kính khi nói về đối tượng giao tiếp (hoặc nhân vật được nhắc đến) và sử dụng cách nói khiêm nhường khi nói về bản thân và những sự việc, trạng thái có liên quan đến bản thân người nói. Đây là điểm tương đồng cơ bản về mặt ý nghĩa trong cách nói khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt. Ví dụ 1: Kacho: Watashi wa korekara tsusansho e itte kuru kara, shacho ga omie ni nattara so moshi agete kurenai ka. (Trưởng ban: Từ bây giờ, tôi sẽ đi đến bộ Thương mại và Công nghiệp, nếu ông giám đốc đến xin cô hãy nói như vậy giùm tôi). Hisho: Kashikomarimashita. Sono youni moushiagemasu. (Thư ký: Thưa vâng. Tôi sẽ nói như vậy) Đây là đoạn hội thoại giữa trưởng ban và thư ký. Theo đó, khi nhắc đến nhân vật cấp trên khác (shacho giám đốc) thì sử dụng cách nói tôn kính omie ni naru - đến. 41
42 Khi nói về hành động của mình, người thư ký sử dụng cách nói khiêm nhường moushiageru nói. Ví dụ 2: Senpai: Yuube sono chihou de ookiina jiko ga atta no wo shitteru? (Tiền bối: Anh có biết tối qua ở vùng đó có một tai nạn lớn không?) Kohai: Hai, zonjite orimasu. Saikin wa jiko ga ooi desu ne. (Hậu bối: Vâng, tôi biết. Gần đây tai nạn nhiều quá nhỉ) Mối quan hệ trên - dưới cũng được xét đến ở hai vai giao tiếp tiền bối - hậu bối, trong đó, tiền bối là những người có kinh nghiệm nhiều hơn hậu bối (có thể tuổi lớn hơn). Do đó, khi nói chuyện, hậu bối phải sử dụng cách nói tôn kính với tiền bối và khiêm nhường bản thân. Trong ví dụ trên, hậu bối đã sử dụng cách nói khiêm nhường zojite orimasu - biết (khiêm nhường của shiru) nhằm đề cao và tôn kính tiền bối một cách gián tiếp. 2 Mối quan hệ trong ngoài: Trong trường hợp nhắc đến những người thân trong gia đình, người Nhật và người Việt ưu tiên sử dụng cách nói khiêm nhường và biểu hiện thái độ khiêm tốn. Chẳng hạn, trong cách xưng hô chồng - vợ, nếu nhắc đến chồng / vợ của người nói trong quá trình giao tiếp thì hình thức xưng hô khiêm nhường sẽ là: tsuma / kanai (vợ tôi, bà xã tôi, nhà tôi), otto (chồng tôi, ông xã tôi, nhà tôi) Trong khi đó, cách xưng hô tôn kính với chồng / vợ của đối tượng giao tiếp sẽ là: shujin (chồng chị ), okusan (vợ anh) Nếu trong trường hợp được người đối thoại khen là: Otaku no okusan wa ryouri ga ojouzu desu ne (Vợ anh nấu ăn ngon quá nhỉ) thì người chồng sẽ không trả lời là: Sounan desu yo. Totemo jouzu de, pro no ryourijin no you desu (Vâng, đúng vậy. Vợ tôi nấu anh ngon lắm, giống như nhà đầu bếp chuyên nghiệp). Câu trả lời đúng sẽ phải mang tính chất và biểu hiện của sự khiêm nhường: Iie, madamada desu. Motto gabaranaito (Ồ, không đâu, nhà em còn phải cố gắng nhiều hơn nữa). Tương tự như vậy, nếu như được khen: Okosan wa yoku benkyou ga dekimasu ne (Con chị học hành giỏi quá nhỉ) thì người mẹ sẽ không trả lời là: Arigatou gozaimasu. Honto ni yoiko desu (Vâng, cám ơn chị. Con tôi đúng thật là 42
43 môt đứa trẻ giỏi). Câu trả lời đúng cần phải thê hiện sự khiêm tốn: Ieie, mada mada heta desu (Ồ, không đâu, không đâu, con tôi vẫn còn dở lắm) hoặc Mousukoshi benkyou shite kureru to iindesu ga (Giá mà con tôi nó học hành chăm chỉ một chút thì tốt biết mấy ). 3 Mối quan hệ thân sơ: Trong trường hợp giao tiếp mà mối quan hệ giữa người nói với đối tượng giao tiếp vẫn tồn tại một khoảng cách (mối quan hệ không thân thiết), thì khi nói chuyện về bản thân hoặc nhắc đến những sự việc, yếu tố liên quan đến người nói thì nhất thiết phải sử dụng hình thức nói khiêm nhường. Ví dụ: A: Otaku no minasama okawari naku osugoshi de irasshaimasu ka. (Mọi người trong gia đình anh vẫn bình thường, không có gì thay đổi cả chứ) B: Okagesama de mina genki ni kurashite orimasu. (Nhờ trời mà mọi người trong gia đình tôi vẫn sinh sống khỏe mạnh) Người A khi hỏi người B đã sử dụng những hình thức biểu hiện của cách nói tôn kính là: Otaku (nhà, gia đình kính ngữ của Ie / uchi), minasama (mọi người kính ngữ của mina), ~ de irasshaimasu (thì kính ngữ của desu). Vì câu hỏi có liên quan đến gia đình nên người B trả lời bằng hình thức biểu hiện khiêm nhường: kurashite orimasu (sống khiêm nhường của động từ kurashite imasu) Hoàn cảnh giao tiếp Trong giao tiếp, khi nói về những vấn đề và sự việc liên quan đến bản thân mình, người nói thường lựa chọn những hình thức xưng hô khiêm nhường. Chẳng hạn, Khi nói về nghề nghiệp, người nói thường sử dụng những cách nói như sau: - Tôi là chủ tịch một công ty rất nhỏ. - Tôi giữ một chức vụ rất nhỏ. - Tôi không chắc lắm là tôi có thể làm được điều này. - Tôi chắc chắn là tôi làm việc này không được thạo lắm. 43
44 Các phát ngôn kiểu này có nguồn gốc từ sự khiêm nhường, là nét tính cách văn hoá truyền thống của hai quốc gia Việt - Nhật. Tuy nhiên, những cách xưng hô khiêm nhường này rất dễ gây hiểu lầm nhất là khi người nghe là người phương Tây đó là những người có cách giao tiếp văn hoá khác hẳn, những người có thể có những phát ngôn kiểu như: Tôi có một công ty rất lớn ; Tôi rất tự hào về.... Tuy có cùng đặc điểm văn hóa giống nhau (văn hóa Trung Quốc) nhưng so với người Triều Tiên và người Trung Quốc thì cách suy nghĩ và lối ứng xử của người Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với người Nhật Bản hơn. Chẳng hạn, khi mời khách dùng bữa hoặc uống nước, cho dù đó có là thức ăn hay đồ uống ngon đến thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ nên nói khiêm nhường là Thật ngại quá, hôm nay bữa ăn (đồ uống) chẳng có gì cả. Xin mời dùng. Hoặc khi tặng ai đó một món quà kỷ niệm rất đẹp và tuyệt vời thì cũng chỉ nên nói là Đây là một món đồ không tốt lắm. Xin hãy nhận cho. Hoặc trong trường hợp tặng quà hay mời người khác dùng bữa thì người Nhật và người Việt thường mở đầu bằng câu: Chẳng có gì to lớn cả. Đây chỉ là chút lòng thành của tôi. Cách nói này trong ca dao, tục ngữ tiếng Việt được biểu hiện bằng câu: Của ít lòng nhiều ; Của cho không bằng cách cho. Vì thế, có lẽ tính khiêm tốn, nhún nhường trong giao tiếp của người Việt Nam và người Nhật Bản ít có dân tộc nào có được. Đó là thói quen trong giao tiếp truyền thống của hai quốc gia Việt Nam Nhật Bản. Thói quen này thể hiện sự tế nhị, ý tứ trong giao tiếp và khiêm tốn trong hành động của người nói. Tuy nhiên, hình thức xưng hô độc đáo này lại có phần khác biệt so với cách xưng hô của người nước ngoài, đặc biệt là người phương Tây. Trong trường hợp tặng cho ai đó một món ăn ngon hoặc một món quà lưu niệm đắt tiền, thông thường người phương Tây sẽ nói là: Vì đây là một món ăn rất ngon nên xin hãy dùng thử. hoặc Đây là một món đồ rất tốt, xin hãy nhận lấy. Tuy nhiên, cách nói này được xem là cách nói không khiếm nhã trong tiếng Nhật và tiếng Việt. 44
45 Trong xã hội Mỹ, mỗi cá nhân đều muốn thể hiện những điểm tốt, những việc làm của mình cho người khác nhưng trong xã hội Việt Nhật lại hoàn toàn khác biệt. Điểm khác biệt cơ bản là do ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa và thói quen xưng hô tác động nên cách xưng hô của người Mỹ thường đề cao cái tôi, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân. Trong khi đó, người Nhật và người Việt thường có thói quen xưng hô trong giao tiếp bằng một thái độ ý tứ, dè dặt và khiêm nhường, hạn chế tuyệt đối việc bộc lộ cái tôi quá mức. Điều này được gọi là vẻ đẹp của sự khiêm nhường (kenjougo no bitoku). Vẻ đẹp của sự khiêm nhường trong cách nói của người Nhật và người Việt chính là vẻ đẹp được bộc lộ bằng tâm trạng muốn đề cao và tôn trọng vị trí của đối tượng giao tiếp bằng cách nhún nhường bản thân và những yếu tố liên quan đến bản thân của người nói Thái độ của người nói Cách nói khiêm nhường là cách nói đề cao đối tượng giao tiếp và nhân vật được nhắc đến trong đề tài nói một cách gián tiếp thông qua hình thức khiêm tốn bản thân và những sự việc, trạng thái liên quan đến người nói. Đó là cách thức chung của xưng hô lễ phép và xưng hô đúng mực. Cách thể hiện sự khiêm nhường trong giao tiếp là con đường để đạt được lịch sự chuẩn mực. Các biểu hiện về lịch sự đó chỉ có ý nghĩa thật sự khi người nói ứng xử và thể hiện bằng một thái độ chân thành. Người nghe có thể nhận biết sự chân thành trong cách nói của người nói qua những yếu tố kèm lời như thái độ, cử chỉ, động tác Trong đó, thái độ khiêm nhường của người nói luôn được đánh giá cao. Chính vì vậy, nếu tỏ thái độ không chân thành thì cho dù người nói có cố gắng xưng hô khiêm nhường, đúng mực đến đâu đi chăng nữa cũng sẽ bộc lộ sự sáo rỗng, giả tạo trong lời nói. Trong trường hợp này, hiệu quả giao tiếp thường trái với sự mong đợi của người nói. Như vậy, cho dù cách nói khiêm nhường có được diễn tả bằng những loại hình ngôn ngữ (tiếng Nhật và tiếng Việt) khác nhau đi chăng nữa thì điểm chung trong hiệu quả giao tiếp là thái độ khiêm nhường của người nói. 45
46 Ví dụ: khi khách hàng đến công ty nhưng lại xách theo một chiếc vali rất to nên gây khó khăn cho việc di chuyển. Người khách hàng gặp nhân viên và đề nghị giúp đỡ: Okyakusan: Chotto sumimasen, toranku wo motteitadakenai deshou ka? (Khách hàng: Xin lỗi, anh có thể xách giùm tôi túi vaili này được không?) Shain: Hai, ii desu yo. Omochisasete itadakimasu (Nhân viên: Vâng, được ạ. Để tôi xách cho quý khách) Tuy người nhân viên sử dụng hình thức nói khiêm nhường Omochisasete itadakimasu nhưng lại tỏ thái độ miễn cưỡng, không vui khi phải làm những việc mà không phải phận sự của mình. Người nhân viên đó vừa xách túi vừa nhăn nhó thể hiện rằng vì chiếc túi của khách hàng quá to nên đã làm anh ta mệt mỏi. Vì thế, khi nhìn vào thái độ giúp đỡ không nhiệt tình cho dù có sử dụng cách nói khiêm nhường của nhân viên thì người khách cũng không cảm thấy hài lòng. Do đó, từ thái độ và cử chỉ của nhân viên này mà có thể ảnh hưởng đến công việc ký kết hợp tác giữa người khách này và công ty nói trên. Trong bất cứ hình thức giao tiếp nào trong xã hội thì cách nói khiêm nhường luôn phải được thể hiện bằng một thái độ chân thành, khiêm tốn đúng mực. Hai yếu tố này là những yếu tố cơ bản trong việc thể hiện hành vi ứng xử và nhân cách của người nói cũng như đạt được hiệu quả giao tiếp trong các mối quan hệ. Hay trong trường hợp trao giải một cuộc thi về sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin, sau khi người dẫn chương trình công bố tác phẩm đoạt giải cao nhất trong cuộc thi thì tác giả của sản phẩm lên phát biểu ý kiến. Khi được mọi người khen ngợi về tác phẩm của mình, tác giả đó đã trả lời những câu như: Minnasama ni homerarete, makoto ni arigatou gozaimasu. Watashi wa motto ganbatte orimasu. (Cám ơn quý vị đã có lời khen về tác phẩm của tôi. Tôi còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa). Hay Watashi no sakuhin wa yokunai tokoro ga sonzaishite orimasu (Tác phẩm của tôi còn nhiều chỗ thiếu sót cần phải khắc phục). Tuy sử dụng những lời nói khiêm nhường nhưng người này lại tỏ thái độ coi thường khi lần lượt đi xem xét và thể hiện ý chê bai các tác phẩm khác. Chính hành động và thái độ kiêu ngạo của người này mà mọi người trong buổi lễ hôm ấy đã có những lời nhận xét không tốt về tính cách cũng như phẩm chất đạo đức của anh ta. 46
47 Do đó, khi nói chuyện hay hành động, trong mọi trường hợp người nói cũng cần phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời nói và thái độ khiêm nhường của mình để giữ gìn vẻ đẹp của sự khiêm nhường. 2.2 Sự khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt Khác nhau ở những điểm cơ bản sau: Khoảng cách xã hội (địa vị, tuổi tác, mối quan hệ) Mối quan hệ giữa người nói với đối tượng giao tiếp Mức độ trang trọng của đề tài nói và hoàn cảnh giao tiếp Trách nhiệm (nghĩa vụ) đối với đối tượng giao tiếp Sự khác biệt trong cách nói tôn kính Đối tượng giao tiếp Mối quan hệ trong ngoài: Ý thức về mối quan hệ trong ngoài biểu hiện văn hóa Nhật Bản. Hơn thế nữa, nó còn biểu hiện tâm lý của người Nhật và văn hóa ngôn từ của nước Nhật. Đồng thời, đây còn là một trong những đặc trưng trong cách suy nghĩ của dân tộc Nhật Bản. Do đó, khi tiếp xúc với người Nhật cần phải hiểu được vai trò của các mối quan hệ trong xã hội Nhật, đặc biệt là mối quan hệ trong ngoài. Để hiểu được cách biểu hiện cụ thể của mối quan hệ này cần xét đến cách biểu hiện của nó trong cách nói kính ngữ. Theo đó, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa người nói với đối tượng giao tiếp mà có cách nói tôn kính hoặc khiêm nhường khác nhau. Trong xã hội Nhật Bản, ý thức về tập đoàn tồn tại phổ biến nhất. Vì thế, dựa vào cách giao tiếp và cách hành động trong tập đoàn có thể thấy được ý thức về mối quan hệ trong ngoài. Theo đó, những người thuộc về tập đoàn (bao gồm những người trong gia đình, người trong công ty, người trong nhóm của người nói) sẽ hình thành nên mối quan hệ bên trong. Và những người còn lại (người không quen thân, 47
48 người lạ, người của công ty khác, người của nhóm khác nhóm của người nói) sẽ hình thành nên mối quan hệ bên ngoài. Cách nói tôn kính chịu sự ảnh hưởng của ý thức tập đoàn ý thức trong ngoài được thể hiện rõ nhất trong môi trường giao tiếp gia đình và công ty. Tuy nhiên, cách nói này trong tiếng Nhật và tiếng Việt có một số điểm khác nhau cơ bản như sau: Gia đình Nhật Bản: Trong gia đình Nhật Bản, khi muốn nói chuyện về những thành viên trong gia đình thì không được sử dụng hình thức xưng hô lịch sự như otosan (bố), okasan (mẹ) Cách sử dụng đúng sẽ là chichi (bố), haha (mẹ) (đây là những hình thức xưng hô khiêm nhường). Do đó, nếu muốn thể hiện ý kính trọng với bố / mẹ của đối tượng giao tiếp thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính là otosan / otosama, okasan / okasama. Vì thế, cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp được người Nhật sử dụng đối với những thành viên không thuộc gia đình. Cách nói này nhằm thể hiện ý kính trọng, đề cao đối tượng giao tiếp. (Cách nói Otosan / okasan hiện nay thường được xưng hô giữa những thành viên trong gia đình). Tuy nhiên, khi giao tiếp trong gia đình, người Nhật lại chọn hình thức nói thân mật cho dù đó có là ông / bà / bố / mẹ những người bậc bề trên (sử dụng hình thức động từ hoặc danh từ ở thể thường Futukei). Hình thức giao tiếp bằng cách nói thông thường, thân mật này là hình thức không cần phải diễn đạt sự tôn kính, chỉ được dùng trong gia đình và giữa bạn bè. Ví dụ: Con: Nee, okasan, otosan wa nannji goro kaeru no? (Mẹ ơi, khoảng mấy giờ thì bố về vậy?) Mẹ: Sou ne, konban wa 10 ji goro ni naru t omou wa. (Để xem nào, mẹ nghĩ chắc khoảng vào lúc 10 giờ tối nay). Trong ví dụ trên, người con đã sử dụng động từ ở thể thông thường là kaeru (về) để hỏi người mẹ. Nếu là động từ tôn kính sẽ trở thành okaeri ni narimasu. Trước đây, đặc biệt là thời tiền chiến, trong gia đình con cái phải dùng kính ngữ khi 48
49 nói với cha mẹ nhưng hiện nay phần lớn sử dụng cách nói ở thể thông thường, thân mật. Ngay từ xa xưa, người Nhật đã có ý thức về sự phân chia mối quan hệ bên trong bên ngoài gia đình một cách rõ ràng. Theo đó, họ phân biệt những đối tượng giao tiếp thuộc mối quan hệ bên trong bên ngoài rõ ràng bằng cách: lấy bản thân làm trung tâm, sau đó tạo thành những chiếc vòng để tách biệt với những người xung quanh. Do đó, họ đã có căn cứ để phân biệt được đâu là bên trong (những người trong gia đình, những người có quan hệ huyết thống) và đâu là bên ngoài (những người không thuộc quan hệ huyết thống). Chính vì thế, mối quan hệ bên trong và bên ngoài đã góp phần ảnh hưởng đến quyết định trong mọi hành động cũng như biểu hiện ngôn ngữ, tâm lý và cách suy nghĩ của người Nhật. Do đó, khi giao tiếp với người Nhật, có thể căn cứ vào cách sử dụng cách nói tôn kính của họ mà thấy được sự phân biệt rõ ràng mối quan hệ bên trong bên ngoài. Khi nói chuyện về gia đình mình (uchi bên trong) với người hàng xóm (soto bên ngoài) thì có sự khác nhau trong cách gọi tên của các thành viên trong gia đình. Watashi no kazoku (uchi) Gia đình người nói (Bên trong) Aite no kazoku (soto) Gia đình đối tượng giao tiếp (Bên ngoài) Chichi Haha Shujin Kanai Keigo (Kính ngữ) A Keigo (Kính ngữ) Aite no kazoku Otosama (bố) Okasama (mẹ) Goshujin (chồng) Okusama (vợ) Kodomo Okosan (con) 49
50 Musuko Musume Watashi (Người nói) Keigo (Kính ngữ) Aite (Đối tượng giao tiếp) Musukosan (con trai) Musumesan, Ojousan (con gái) Hình : Hình vẽ thể hiện các hình thức xưng hô trong gia đình người nói và hình thức xưng hô gia đình của đối tượng giao tiếp Hình vẽ trên cho thấy sự khác biệt trong cách xưng hô giữa gia đình người nói với gia đình của đối tượng giao tiếp. Theo đó, cột đầu tiên là cách xưng hô khiêm nhường khi nói chuyện về gia đình mình với người khác. Ví dụ: A: Go ryoshin wa ogenki de irassaimasu ka? (Song thân của anh có khỏe không?) B: Hai, okagesama de, chichi wa genki ni shite orimasu ga, haha wa saikin ryumachi gimi de, achikochi itai to moushite orimasu. (Vâng, nhờ trời cha tôi vẫn khỏe, nhưng mẹ tôi dạo gần đây vì bị phong thấp nên đau nhức khắp mình). Đoạn hội thoại trên, vì người A hỏi thăm về bố mẹ của người B nên sử dụng cách nói tôn kính (Goryoushin / Ogenki thêm tiếp đầu ngữ O vào trước danh từ). Người B vì trả lời về bố, mẹ mình nên sử dụng cách nói khiêm nhường (chichi khiêm nhường của otosama, haha khiêm nhường của okasama, cách chia động từ có đuôi orimasu khiêm nhường của imasu). Cột bên phải là cách xưng hô tôn kính khi nói chuyện về các thành viên trong gia đình đối tượng giao tiếp. Trong đó, dấu mũi tên chỉ hướng các mối quan hệ giao tiếp được thiết lập. Theo đó, khi Watashi - người nói nói chuyện với các thành viên trong gia đình thì sẽ không sử dụng cách nói tôn kính. Trong trường hợp nói chuyện với đối tượng giao tiếp hoặc đề cập đến các thành viên trong gia đình của họ thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính. 50
51 Gia đình Việt Nam: Trong gia đình Việt Nam truyền thống, những người có cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau tạo thành đơn vị cơ sở là gia đình và đơn vị cấu thành là gia tộc. Đối với người Việt Nam, gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó có vai trò quan trọng thậm chí còn hơn cả gia đình. Vì thế người Việt rất coi trọng các khái niệm liên quan đến gia tộc như trưởng họ, tộc trưởng, nhà thờ họ, từ đường Theo đó, quan hệ huyết thống được xét theo quan hệ hàng dọc, theo thời gian. Nó là cơ sở của tính tôn ti. Người Việt có hệ thống tôn ti trực tiếp rất chi li, phân biệt rạch ròi tới chín thế hệ (gọi là cửu tộc). Đó là những mối quan hệ: kị / cố, cụ, ông, cha, tôi, con, cháu, chắt, chút. Vì cách phân chia mối quan hệ theo trật tự này mà trong gia đình người Việt, cách giao tiếp giữa các thành viên luôn được coi trọng. Những vai dưới (con, cháu, chắt, chút) sẽ sử dụng cách nói tôn kính với vai trên (kị / cố, cụ, ông, bà). Chẳng hạn, trước khi đi học, con / cháu phải chào người lớn: Con chào bố / mẹ con đi học hoặc Cháu chào ông / bà cháu đi học Hay khi đi học về, người dưới cũng phải nói là: Thưa ông / bà, cháu mới đi học về, Thưa bố / mẹ con mới đi học về Dựa vào cách sử dụng từ ngữ và cách nói của người Việt Nam có thể thấy được trật tự tôn ti trong gia đình đóng vai trò quan trọng chi phối cách giao tiếp của mỗi người. Cách nói tôn kính của người dưới đối với người trên được thể hiện bằng các cách nói có đầy đủ chủ ngữ - vị ngữ đồng thời sử dụng những hình thức từ ngữ lịch sự, không thô tục. Chẳng hạn, như cách chào khi đi học về, nếu câu chào không có chủ ngữ là: Mới đi học về thì sẽ bị đánh giá là vô lễ, không tôn trọng người lớn tuổi, bậc bề trên trong gia đình. Bởi lẽ ngay từ thuở nhỏ, những đứa trẻ đã được người lớn dạy rằng: phải đi thưa về trình, nói năng có chủ ngữ - vị ngữ, không được nói trống không, ra đường gặp người lớn tuổi phải lễ phép khoanh tay chào hỏi Khi người khác hỏi về gia đình mình thì phải lễ phép trả lời, nếu hỏi về vai bậc trên thì cũng phải trả lời bằng cách nói tôn kính, tránh trả lời trống không. Chẳng hạn, khi được hỏi: Ba cháu đang làm ở đâu thế? thì phải trả 51
52 lời là: Dạ thưa, ba cháu đang làm ở công ty thiết kế ạ. Trong cách trả lời này người nói đã sử dụng cách nói tôn kính dành cho hai đối tượng giao tiếp, đó là: người nghe và nhân vật được hỏi (người bố). Cách nói tôn kính trong tiếng Việt được sử dụng bằng cách thêm những từ có ý nghĩa kính trọng như: thưa, dạ thưa, bẩm (đầu câu), ạ, vâng ạ (cuối câu). Đặc biệt từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái. Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Chẳng hạn như việc sử dụng các cách nói tôn kính, trang trọng thì không thể biến đổi hình thức động từ hoặc danh từ tôn kính như trong tiếng Nhật. Do đó, điều quan trọng là phải lựa chọn từ ngữ và thay đổi cách thức xưng hô ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ ba của đối tượng tham gia giao tiếp cho phù hợp với từng đối tượng căn cứ vào tuổi tác và địa vị xã hội. Cách xưng hô trong tiếng Việt khi tiếp xúc với bất cứ ai trong xã hội phần lớn đều sử dụng những danh từ dùng để chỉ người thân trong gia đình (như: thưa ông, thưa bà, bác, chú, anh, chị, cô, dì, mợ...) cho thấy người Việt lấy gia đình làm nơi khởi phát cho cộng đồng xã hội. Mặt khác, cách xưng hô trong tiếng Việt còn phản ánh cộng đồng con người biết trên dưới trật tự, phát huy dễ dàng những mối tình cảm thân thiết và cách cư xử lễ nghĩa linh động, gây ý thức về các đạo làm người trong nhiều mối tương giao riêng (đạo hiếu, đạo vợ - chồng, cha mẹ - con cái, đạo thầy - trò, đạo bằng hữu...). Trở lại tình huống trên, nếu xét trong trường hợp là người Nhật thì họ sẽ trả lời cho câu hỏi trên như sau: Chichi wa ima sekkei kaisha de hataraite orimasu. Trong đó, chichi (bố) và hataraite orimasu (làm việc) là những hình thức danh từ và động từ trong cách nói khiêm nhường. Như vậy, người Nhật khi nói về những thành viên trong gia đình sẽ lựa chọn hình thức nói khiêm nhường để tôn kính người đối thoại một cách gián tiếp. Trong khi đó, người Việt lại sử dụng cách nói tôn kính dành cho cả hai đối tượng: người đối thoại và nhân vật trong gia đình được nhắc đến. Cách thức giao tiếp này xuất phát từ nguyên tắc đạo đức truyền thống: kính trên nhường dưới, kính lão đắc thọ của người Việt Nam. Chính vì vậy, cách thức 52
53 chung trong việc giao tiếp của người Việt đó là: nếu nhân vật giao tiếp hoặc đối tượng giao tiếp được nhắc đến là người bậc bề trên, đáng tuổi ông / bà / bố / mẹ / cô của người nói thì sẽ ưu tiên lựa chọn cách nói tôn kính nhằm thể hiện ý kính trọng người lớn tuổi (dùng chung cho cả người trong gia đình, những người có quan hệ gần gũi với người nói - những người thuộc mối quan hệ bên trong ). Công ty Nhật Bản: Trong xã hội Nhật Bản, mối quan hệ bên trong bên ngoài tồn tại một cách phổ biến. Do đó, trong cách sử dụng cách nói tôn kính cũng biểu hiện ý nghĩa này. Đây được coi là cách biểu hiện điển hình nhất. Trong quan niệm về kính ngữ hiện đại của người Nhật thì không sử dụng hình thức kính ngữ đối với những người có quan hệ gần gũi với người nói. Kính ngữ chỉ được sử dụng với những người không quen biết, người trên hoặc những người không thân thiết Cách suy nghĩ có sự phân biệt bên trong bên ngoài này ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức giao tiếp của nhân viên trong công ty Nhật Bản. Chẳng hạn, cách nói của nhân viên với cấp trên là Shacho san (ngài giám đốc) là cách nói tôn kính bình thường. Tuy nhiên, nếu như có khách hàng hỏi là: Shacho san wa irasshaimasu ka? (Ngài giám đốc có ở đây không?) thì nếu nhân viên trả lời bằng câu: Shacho san wa irassaimasen., đây là cách sử dụng cách nói tôn kính không đúng. Bởi vì đối với khách hàng Shacho san (ngài giám đốc) được nói tới là nhân vật có mối quan hệ soto (bên ngoài, không thuộc công ty của người đó) nên sử dụng cách nói với động từ tôn kính irassaimasu (hình thức lịch sự thông thường là imasu) là cách sử dụng đúng. Còn đối với người nói (nhân viên công ty) thì ngài giám đốc được nhắc đến là cấp trên của mình (có mối quan hệ bên trong, tức là thuộc công ty của người nói) thì phải sử dụng cách nói khiêm nhường. Chính vì vậy, cách sử dụng đúng trong câu trả lời của người nhân viên ở phía trên sẽ là: Shacho wa tadaima seki wo hazushite orimasu (Giám đốc công ty chúng tôi vừa đi ra ngoài). Đây là cách nói có sử dụng hình thức khiêm nhường. Nếu so sánh với cách trả lời ở phía trên thì trong cách nói này, từ xưng hô Shacho 53
54 san của nhân viên đã lược bỏ hậu tố san (hình thức tôn kính). Thêm vào đó, thay vì sử dụng động từ tôn kính là irassaimasu thì biến đổi thành động từ khiêm nhường bằng cách chuyển từ động từ hazushiteimasu thành hazushiteorimasu. (Hình thức khiêm nhường của động từ imasu là orimasu). Tương tự, trong trường hợp của nhân viên trực điện thoại trong công ty, khi tiếp nhận điện thoại từ phía khách hàng thì sẽ có cách nói như sau: Khách hàng: Yamada to moshimasu. Sato kacho wo onegaiitashimasu. (Tôi là Yamada. Xin vui lòng cho tôi gặp trưởng phòng Sato). Nhân viên: Moshiwake gozaimasen. Ainiki Sato wa gaishutsu shiteorimasu. (Thành thật xin lỗi, thật tiếc là Sato vừa đi ra ngoài).. Trong đoạn hội thoại trên, khi khách hàng hỏi về trưởng phòng của công ty thì người nhân viên trả lời là: Sato wa gaishutsushite orimasu. Trong cách trả lời này thì đằng sau tên của trưởng phòng là sato không có từ chỉ chức vụ là kacho (trưởng phòng) và sử dụng động từ khiêm nhường là gaishutsu shiteorimasu (đi ra ngoài). Hoặc xét ví dụ về cách sử dụng động từ tôn kính trong ví dụ dưới đây: Ông Tanaka nhân viên của công ty A, nói chuyện với ông Sato - trưởng phòng của công ty B. Tanaka: Ashita, uchi no Fujita kacho ga, B sha ni sanji goro irassharitai to osshateimasu. (Trưởng phòng Fujita của công ty chúng tôi nói rằng ông ấy muốn đến công ty B vào khoảng ba giờ ngày mai). Ông Sato: So, sou desu ka?. (À, vậy hả?) Câu trả lời đáp lại của ông Sato biểu lộ sự ngạc nhiên trước câu tường thuật lại lời nói của cấp trên của ông Tanaka. Bởi vì cách nói của Tanaka là cách sử dụng kính ngữ sai. Theo nguyên tắc giao tiếp của người Nhật, khi nói chuyện với khách 54
55 hàng về cấp trên của mình thì phải sử dụng cách nói khiêm nhường (không được sử dụng cách nói tôn kính như ví dụ trên) để thể hiện thái độ tôn kính gián tiếp đối với người nghe. Do đó, cách sử dụng đúng trong ví dụ trên sẽ là: Ashita, uchi no Fujita ga, Bsha ni sanji goro mairitai to moushimasu. Trong đó, đằng sau tên của trưởng phòng của người nói đã không có từ chức vụ (kacho) và sử dụng động từ khiêm nhường: mairimasu (khiêm nhường của động từ kimasu đến, kính ngữ là irasshaimasu), moushimasu (khiêm nhường của động từ iimasu nói, kính ngữ là osshaimasu). Khi nói chuyện với khách hàng về cấp trên của mình, nhân viên sẽ sử dụng cách nói khiêm nhường nhưng khi nói chuyện trực tiếp với cấp trên thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính. Ví dụ: Igirusu no kigyou, Yukerisu baishuu ni kanren shite, aitegawa jouken teiji ga atta. Soreni taisuru kaito to, taiyo ginkoo to shite no kihon teki taido wo shimesu bunsho no sakusei ga hituyoo ni nari, Yamada (shain) wa, bucho kara, zangyoo shite bunan wo matome koto wo tanomareru. (Về vấn đề liên quan đến việc mua công ty U.K.Lease của Anh quốc, ông Jamese - người đại diện phía đối tác đã đưa ra bản điều kiện chính thức. Do đó, về việc phúc đáp cần phải có văn bản biểu hiện chính thức tư cách của ngân hàng đại Dương, trưởng ban đã gọi Yamada (nhân viên), yêu cầu làm thêm giờ để tổng hợp bản thảo.. Bucho: Imamade, yakiinkai de hanashi atte, kono memo ni aru youna kaito wo dasu koto ni shitan da keredo, kore wo bunsho ni matomete kureta mae. (Trưởng ban: Vừa rồi, chúng tôi đã có bàn qua trong cuộc họp ban lãnh đạo. Nội dung bản phúc đáp mà chúng ta sẽ gửi đi được phác thảo trong bản ghi nhớ này. Anh hãy tập hợp lại rồi viết thành văn bản nhé. Shain: Jaa, sassoku hajimemasu ga, bunan ga dekitara, goran ni natte itadakemasu ka?. 55
56 (Nhân viên: Vâng, tôi sẽ bắt đầu công việc ngay, nhưng khi bản thảo đã xong tôi sẽ trình ông xem lại được chứ ạ?). Trong đoạn hội thoại giữa nhân viên và trưởng ban trong ví dụ trên có thể thấy rằng, nhân viên đã sử dụng cách nói tôn kính cấp trên của mình. Dấu hiệu nhận biết là trong câu nói của nhân viên là có sử dụng động từ tôn kính goran ni naru (động từ thường là miru xem / nhìn). Cách nói này nhằm tôn kính và đề cao cấp trên của người nói. Như vậy, trong cách thức cũng như nguyên tắc giao tiếp trong công ty Nhật Bản tồn tại song song hai hình thức giao tiếp cơ bản. Đó là: cách nói tôn kính của nhân viên với cấp trên và cách nói khiêm nhường của nhân viên với khách hàng khi nói về cấp trên hoặc những người trong công ty người nói. Nếu trong trường hợp sử dụng cách nói khiêm nhường để thể hiện ý tôn kính đối tượng một cách gián tiếp thì khi muốn thể hiện ý tôn kính đối tượng một cách trực tiếp, người nói sẽ sử dụng cách nói tôn kính. Ví dụ dưới dây là cách nói tôn kính trực tiếp của nhân viên với khách hàng: Yamada kacho: Shitsurei shimasu. (Trưởng phòng Yamada: Xin phép) Uketsukei: Irassaimase. (Tiếp tân: Xin kính chào quý khách). Yamada kacho: Taiyo bussan no Yamada to mooshimasu. Uketukei: Taiyo bussan no Yamada degozaimasu ne. Shooshoo omachi kudasai... Uketukei : Omataseitashimashita. Sochira no erebeta de nanakai ni osusumi kudasai.... Trong ví dụ trên, người tiếp tân đã sử dụng các hình thức nói tôn kính khách hàng như ~ degozaimasu là ~, omachi kudasai kính ngữ của matte kudasai (chờ đợi), osusumi kudasai kính ngữ của susunde kudasai (lên). 56
57 Watashi no kaisha (uchi) Bên trong Shagai (soto) Bên ngoài Keigo (Kính ngữ) A Kaiwa (Đàm thoại) Watashi (Người nói) Aite (Đối tượng giao tiếp) Keigo (Kính ngữ) Hình : Hình vẽ thể hiện nguyên tắc giao tiếp cơ bản trong công ty Nhật Bản Hình vẽ trên cho thấy cách thức giao tiếp giữa người trong công ty với người bên ngoài công ty như khách hàng, đối tác buôn bán Theo đó, khi nói chuyện với công ty đối tác về cấp trên hay những người trong công ty, người nói sẽ ưu tiên lựa chọn hình thức nói tôn kính đối với khách hàng và những người thuộc về phía khách hàng. Những người thuộc đối tượng A (thuộc công ty người nói) thì khi nói chuyện với khách hàng tuyệt đối không sử dụng cách nói tôn kính. Công ty Việt Nam: Trong công ty Việt Nam, hình thức giao tiếp của nhân viên với cấp trên cũng chịu ảnh hưởng bởi phong cách giao tiếp truyền thống trong xã hội. Đó là cách nói tôn kính của nhân viên đối với cấp trên và với khách hàng, công ty đối tác. Trong khi đó, trong công ty Nhật Bản, khi nói chuyện với khách hàng về cấp trên hay những người trong công ty thì nhân viên sử dụng cách nói khiêm nhường và sử dụng cách nói tôn kính đối với khách hàng và những người thuộc về phía khách hàng. Tuy nhiên, nguyên tắc giao tiếp trong công ty Việt Nam có sự khác biệt so với 57
58 nguyên tắc giao tiếp trong công Nhật Bản. Đó là khi nói chuyện với cấp trên trong công ty hay nói chuyện với khách hàng về cấp trên thì nhân viên người Việt sẽ sử dụng cách nói tôn kính. Cách nói này sẽ thể hiện văn hóa kinh doanh cũng như ảnh hưởng đến bộ mặt của công ty. Chẳng hạn, khi được khách hàng hỏi: Xin vui lòng cho hỏi, giám đốc Phong có ở đây không? thì nhân viên sẽ trả lời là: Xin lỗi quý khách, giám đốc Phong vừa đi ra ngoài. Cách trả lời này vừa thể hiện ý tôn kính đối với khách hàng vửa thể hiện ý tôn kính đối với cấp trên của người nói. Trong khi đó, cách trả lời của nhân viên trong công ty Nhật sẽ không có từ ngữ chỉ chứa vụ đằng sau tên của cấp trên, đồng thời sử dụng động từ khiêm nhường. Đây được xem là một trong những nét văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh của từng quốc gia, của từng loại hình ngôn ngữ. Trong trường hợp đối tượng được nhắc đến không phải là cấp trên mà chỉ là người nhân viên khác, thậm chí còn là những người cấp dưới của người nói thì cách thức giao tiếp vẫn không có sự thay đổi. Đó là cách thức giao tiếp dựa trên tuổi tác, nếu đối tượng giao tiếp lớn tuổi nhưng có vị trí trong công ty thấp hơn người nói thì cũng phải sử dụng cách nói tôn kính. Chẳng hạn, cách nói chuyện của nhân viên với một người lao công: Cô Mai ơi, cô mang cho phòng con một bình nước nha cô. Trong cách nói này, người nhân viên vẫn sử dụng hình thức câu với đầy đủ chủ ngữ - vị ngữ nhằm thể hiện ý tôn kính người lớn tuổi. Nếu người nói không muốn thể hiện ý tôn kính với đồi tượng giao tiếp thì sẽ có cách nói khuyết chủ ngữ là: Mang cho bình nước. Câu nói này mang hàm ý vô lễ, bất lịch sự, không tôn trọng người lớn tuổi với những từ ngữ mang sắc thái ra lệnh, sai bảo Hình thức biểu hiện: Cách nói tôn kính trong tiếng Nhật: 1 Thêm vào tiếp đầu ngữ tôn kính: Ví dụ: Onamae Goiken Omiashi Kisha Onsha Otaku (Tên) (Ý kiến) (Chân) (Công ty) (Công ty) (Nhà) Gokazoku Kosetsu Sonfu Houmei Sonmei Ojousan 58
59 (Gia đình) (Cao kiến) (Ông) (Tên) (Tên) (Con gái) 2 Thêm vào tiếp vị ngữ tôn kính: Ví dụ: Yamada san Yamada sama Tanaka shi (Ông Yamada) (Ngài Yamada) (Ông Tanaka) 3 Sử dụng danh từ tôn kính: Ví dụ: Yamada sensei Yamada kacho Tanaka shocho (Thầy Yamada) (Ông trưởng ban Yama) (Ông giám đốc sở Tanaka) Dochira Donata ~ Kata (Vị nào) (Vị nào) (Ngài ~) 4 Sử dụng động từ kính ngữ: Từ thông thường Từ tôn kính Suru Nasaru (làm) Ví dụ: Sensei mo kono keikaku wo nasaimasu. (Thầy giáo cũng tán thành kế hoạch này). Iku Irassharu / oide ni naru (đi) (~ Teiku ~ Teirassharu) Ví dụ: Kaicho wa raigetsu chuujun Newyork e oide ni naru yotei desu. (Ông hội trưởng dự định đi Newyork vào trung tuần tháng tới)... Kau Omotome ni naru (mua) Ví dụ: Koshou no sai niwa omotome ni natta hanbaiten e gorenreku kudasai. (Khi có trục trặc xin quý khách hãy liên lạc với cửa tiệm đã mua). Neru Oyasumi ni naru (ngủ) Ví dụ: Sakuya yoku oyasumi ni narimashita ka. (Đêm qua ông có ngủ được không ạ?).. Ngoài ra, còn có một số hình thức biểu hiện khác đã trình bày ở chương một. Như vậy, để thể hiện cách nói tôn kính trong tiếng Nhật thì việc biến đổi hình thức danh từ, động từ sang cách nói tôn kính là một trong những yếu tố quan trọng. 59
60 Cách nói tôn kính trong tiếng Việt: Trong giao tiếp thường ngày, người Việt luôn tôn trọng lễ giáo, xử sự theo nguyên tắc kính trên nhường dưới và lấy đó làm nền tảng đạo đức xã hội. Trong đó, cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp là chuẩn mực để đánh giá mức độ hiểu biết phép tắc trong các nghi thức xã giao hàng ngày của một con người. Theo đó, khi gặp người đáng tuổi ông / bà thì gọi họ bằng ông / bà và xưng bằng cháu hoặc con, người ngang hàng cha, me, chú, cô thì gọi bằng chú, cô, dì và xưng con / cháu Đó chính là nguyên tắc phân biệt ngôi thứ dựa trên tuổi tác trong văn hóa giao tiếp của người Việt. Về mặt ý nghĩa trong cách nói tôn kính của tiếng Việt thì phần nào có sự tương đồng với cách nói tôn kính (Sonkeigo) trong tiếng Nhật. Tuy nhiên, vì mỗi ngôn ngữ có đặc trưng về loại hình và cách thức biểu hiện riêng nên trong cách nói này vẫn tồn tại một số điểm khác nhau cơ bản. Trong khi cách nói tôn kính trong tiếng Nhật được biểu hiện bằng cách thêm các tiếp đầu ngữ, tiếp vị ngữ hoặc chia các hình thức động từ tôn kính thì tiếng Việt lại có những hình thức biểu hiện khác biệt. Hơn thế nữa, vì tiếng Việt thuộc ngôn ngữ không biến hình nên không thể có hình thức chia động từ hay kết hợp các động từ tôn kính như tiếng Nhật. Do đó, sự có mặt hay vắng mặt của chủ ngữ chính là thước đo mức độ thân mật, tôn kính hoặc mức độ lịch sự của người nói đối với người nghe. Chính vì vậy, để thể hiện sự tôn kính, thái độ tôn trọng đối tượng giao tiếp thì ngoài việc sử dụng các đơn vị từ vựng thích hợp, người Việt còn sử dụng đến các phương tiện ngữ pháp. Các đơn vị từ vựng tôn kính bao gồm những từ có sắc thái trang trọng, sự thay đổi linh hoạt các hình thức đại từ nhân xưng, sử dụng những từ Hán Việt có ý nghĩa tôn kính như: quý ngài, quý cô, quý bà.các phương tiện ngữ pháp bao gồm hình thức nói có đầy đủ các thành phần chính trong câu là chử ngữ và vị ngữ, nếu thiếu một trong hai thành phần này thì câu nói sẽ không thể hiện ý nghĩa tôn kính. Ngoài ra, trong cách nói này cũng sử dụng khá phổ biến các hình thức từ diễn đạt ý kính trọng như: thưa, dạ thưa, bẩm, trình, (bẩm, trình dùng cho cách xưng hô ngày xưa: bẩm cụ, trình tổng đốc) ạ, vâng ạ, 60
61 Thưa là tiếng dùng để tỏ ý kính trọng khi nói chuyện với người lớn tuổi, cấp trên, người có địa vị xã hội... [7;1999:1] Vị trí của từ thưa có thể ở cuối câu, trước đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều hoặc cũng có thể có vị trí ở đâu câu. Khi đứng ở vị trí đầu câu, từ này làm nhiệm vụ mào đầu cho câu chuyện sẽ được bắt đầu với người đối thoại. Ví dụ: - Thưa ông, tôi không muốn nghĩ ngợi nhiều về chuyện đó nữa. (cách xưng hô ông tôi của người nói chứng tỏ người đối thoại có sự cách biệt về địa vị xã hội. Nếu cách biệt về tuổi tác sẽ có cách xưng hô ông cháu.) - Thưa quý ông bà, sau đây giám đốc chúng tôi xin có vài lời. (quý ông bà là khách hàng, những người tham dụ trong một buổi họp, buổi hội thảo là đối tượng cần thể hiện sự tôn kính). Khi đứng ở vị trí cuối câu, trước đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, từ này không còn giữ nhiệm vụ mở đầu câu chuyện hoặc mở đầu lời phát biểu hay lời giới thiệu trước đám đông mà đơn giản chỉ bày tỏ sự trân trọng hoặc lễ phép của người nói đối với người nghe. (cho dù người nghe có tuổi tác hoặc địa vị thấp hơn người nói). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là từ này có thể xuất hiện trước các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai theo các nói thông thường kiểu: em, bạn, mày... Ví dụ: - Mấy giờ thì bà về, thưa bà. - Ông có điện thọai đấy, thưa ông. Ạ là từ biểu thị ý kính trọng (hoặc thân mật) trong quá trình giao tiếp. [7;1999:1] Trong trường hợp này chỉ xét từ ạ với ý nghĩa kính trọng, qua đó hình thành nên cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp trong tiếng Việt. Vị trí của từ này thường ở cuối câu hoặc đi sau đại từ nhân xưng ở ngôi thứ hai - người đang đối thoại với người nói. Ví dụ: - Lạy cụ ạ. - Cháu chào ông ạ. Trong ví dụ trên, người đang đối thoại với người nói là cụ, ông đây là hai đối tượng giao tiếp có độ tuổi lớn hơn người nói và có địa vị trong gia đình / xã hội khác địa vị của người nói. Thêm vào đó, từ ạ được dùng với những người trong 61
62 gia đình (ông, bà, bố, mẹ, anh chị ) và những người ngoài gia đình (những người có độ tuổi tương đương với những người lớn trong gia đình, giáo viên, bác sĩ, cấp trên...). Yếu tố được lưu ý ở đây là đối tượng để thể hiện ý kính trọng phải là những người lớn tuổi hoặc có địa vị / cương vị cao hơn người nói. Ngoài ra, trong cách nói tôn kính trong tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn những từ gốc Hán (Hán Việt) để mức độ kính trọng đạt được hiệu quả cao nhất. Tóm lại, tuy cùng thể hiện ý kính trọng đối tượng giao tiếp nhưng do đặc trưng mỗi loại hình ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của mỗi quốc gia khác nhau nên trong cách nói cũng có sự khác nhau. Thông qua đó, thể hiện nét đặc trưng trong văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ độc đáo của tiếng Nhật và tiếng Việt Sự khác biệt trong cách nói khiêm nhường Đối tượng giao tiếp Mối quan hệ trong ngoài Nhật Bản: Vì ảnh hưởng vởi tính chất tập đoàn mạnh mẽ nên người Nhật có sự phân chia sâu sắc mối quan hệ trong ngoài. Theo đó, khi giao tiếp thì người nói sẽ sử dụng các hình thức lờ nói và xưng hô khiêm nhường đối với những người thuộc phạm vi mối quan hệ bên trong (những người trong gia đình, những người trong công ty, những người trong nhóm bất kể tuổi tác và địa vị xã hội ). Ví dụ 1: khi nói về ông / bà trong gia đình: A: Obasama wa omagosama ga kawakute shikata ga nai no deshou ne. (Bà của anh cưng đứa cháu quá nhỉ) B: Ee, sobo mo sofu mo nagai jikan mago ga dekiru no wo tanoshimi ni shite orimashita kara (Vâng. bởi vì đã từ lâu, ôngb à tôi rất mong có cháu) Xưng hô khiêm nhường (sofu ông, sobo bà), động từ khiêm nhường (tanoshimi ni shite orimasu mong đợi / mong chờ). Như vậy, cho dù ông / bà là 62
63 bậc bề trên trong gia đình nhưng đối với người Nhật thì ông / bà là người thuộc mối quan hệ bên trong nên sử dụng cách nói và cách xưng hô khiêm nhường. Ví dụ 2: Ông Tanaka là doanh nghiệp và ông Yamashita là khách hàng: Tanaka: Yamashita san, konban atari nomi ni irasshaimasen ka (Thưa ông Yamashita. Tối nay, ông không đi uống rượu được với tôi sao?) Yamashita: Ii desu ne. Demo konban wa kanai no ryoushin ga 10 nen buri ni kuni kara dete kuru node hayaku kaerana kereba naranain desu. (Được đấy nhỉ, Nhưng vì tối nay bố mẹ vợ tôi lần đâu tiên sau 10 năm từ quê hương đến chơi nên tôi phải về nhà sớm). Xưng hô khiêm nhường: kanai - vợ tôi, bà xã tôi, kuru đến, tới. Ý thức về mối quan hệ bên trong bên ngoài cũng được thể hiện trong cách nói trong môi trường công ty. Theo đó, khi nói chuyện với người bên ngoài về các thành viên trong công ty (cấp trên, đồng nghiệp, cấp dưới ) thì phải sự dụng cách nói khiêm nhường. Ví dụ: khi cấp dưới giới thiệu cấp trên cho khách hàng: A: Doumo omatase itashimashita. Kochira ga kacho no suzuki degozaimasu (Xin lỗi vì đã để ngài đợi lâu. Đây là ông trưởng phòng Suzuki của công ty chúng tôi) B: Hajimemashite. Toyo shoji no Morita to moushimasu (Lần đầu tiên được gặp ông. Tôi là Morita của công ty thương mại Đông Dương) Động từ khiêm nhường: itashimasu (shimasu: làm), moushimasu (iimasu: nói), cách giới thiệu tên của trưởng phòng Kacho no suzuki (trưởng phòng Suzuki). Nếu là cách giới thiệu tôn kính (theo truyền thống của người Việt) sẽ là: Kacho no Suzukisama (Ngài trưởng phòng Suzuki). Vì thế ở đây có thể nhận thấy là có sự phân biệt khá rõ giữa người bên trong (trưởng phòng - cấp trên) và người bên ngoài (khách hàng). Theo đó, cho dù người bên trong là cấp trên (nhân vật cần kính trọng) thì người nói cũng vẫn sử dụng cách nói khiêm nhường. Trong khi đó, người Việt sẽ dùng cách nói tôn kính để giới thiệu về cấp trên là Suzuki san / sama ông / ngài Suzuki. 63
64 Việt Nam: Nguyên tắc giao tiếp của người Việt là hình thức sử dụng các từ xưng hô phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và khoảng cách xã hội giữa người nói với người nghe. Theo đó, nếu đối tượng giao tiếp là người lớn tuổi, cấp trên, người không quen biết thì phải sử dụng cách nói tôn kính đúng mực bất kể là người đó thuộc mối quan hệ bên trong hay bên ngoài. Bởi vì người Việt lấy những yếu tố như tuổi tác, địa vị xã hội, mối quan hệ thân sơ làm cơ sở để lựa chọn cách thức xưng hô chứ không phân chia rõ ràng mối quan hệ trong ngoài như người Nhật. Theo đó, người nào đáng tuổi ông / bà thì gọi là ông / bà và xưng là con / cháu Ngay cả đối với cấp trên thì người Việt cũng lựa chọn hình thức xưng hô như: trưởng phòng / giám đốc, chú, bác Khi giới thiệu với khách hàng: Xin được trân trọng giới thiệu. Đây là giám đốc Nam của công ty chúng tôi (Kochira wa Nam shacho degozaimasu). Trường hợp người Nhật giới thiệu sẽ là: Kochira wa shacho no Nam degozaimasu. Phía sau tên giám đốc không có từ chỉ chức vụ hoặc hậu tố xưng hô lịch sự san / sama Hình thức biểu hiện 1 Cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật: Hình thức thêm O / Go vào danh từ và hình thức liên dụng của động từ O / Go ~ suru / itasu Ví dụ: Shuppatsu jikan ga ichi jikan kurisageraremashita node, minasama ni sono mune gorenraku itashimashita (Vì giờ xuất phát đã bị hoãn lại một tiếng. Tôi đã thông báo tin này cho mọi người) O / Go ~ moushiageru Ví dụ: Eigyo no Tamura degozaimasu. Yoroshiku onegai moushiagemasu (Tôi là Tamura ở phòng doang nghiệp. Mong nhận được sự gúp đỡ của ngài) O / Go ~ itadaku Ví dụ: Chotto omochitadakereba, sugu naoshiitashimasu (Nếu được anh chờ cho một chút, tôi sẽ sửa lại liền) 64
65 . Một số hình thức động từ khiêm nhường khác như: iku (đi) / kuru (đến) mairu, iru oru (ở), suru itasu (làm), taberu (ăn) / nomu (uống) itadaku. 2 Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt: Vì tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ không biến hình (khác với tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ biến hình) nên để thể hiện ý đồ trong giao tiếp như cách nói tôn kính, cách nói khiêm nhường thì người nói phải biết lựa chọn những từ ngữ mang sắc thái khiêm tốn, lễ độ cùng các phương thức ngữ pháp hợp chuẩn. Cặp xưng hô hợp chuẩn của giáo viên với học sinh thường là thầy em, cô em, thầy tên riêng, cô tên riêng, thầy các em, cô các em nhưng trong lớp học hiện nay ở nhiều trường, giáo viên thường xưng hô một cách khiêm nhường với học sinh như tôi em, tôi các em, tôi các anh / các chị, tôi các bạn, tôi tên riêng Chẳng hạn, khi bố mẹ xưng hô với con cái sử dụng các cặp từ xưng hô: bố - con, mẹ - con là họ đã nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực và thân thiện. Khi con cái đã trưởng thành, bố, mẹ thường chuyển sang xưng hô với con bằng các cặp từ xưng hô: tôi anh, tôi - chị là họ đã nhấn mạnh đến sự bình đẳng hơn (khiêm) nhưng cũng có khoảng cách trong mối quan hệ với con cái. Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt không thể hiện rõ ở các hình thức xưng hô như trong tiếng Nhật. Thay vào đó là việc sử dụng các hình thức từ ngữ, câu nói, cấu trúc ngữ pháp trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn, khi trả lời câu hỏi của người khác về các con trong gia đình, người mẹ đã nói: A: Okosan mo mina san ookiku narareta deshou ne (Các con của chị tất cả đều lớn hết rồi nhỉ) B: Ee, ichiban ue no musuko wa kotoshi daigaku wo sotsugyo shite, kaisha ni iremashita, mannako no musuko wa daigaku ichinen, musume wa koko sannen, shita no ko wa koko ichinen ni narimashita 65
66 (Vâng, đứa con trai lớn của tôi đã tốt nghiệp đại học và đi làm, đứa con trai giữa thì đang học đại học năm nhất, đứa con gái kế thì học lớp 12 và đứa con trai út thì học lớp 10) Nếu xét về đại từ nhân xưng khiêm nhường thì tiếng Nhật thể hiện rõ hơn tiếng Việt. Chẳng hạn, trong đoạn hội thoại trên, người mẹ trả lời về các con mình bằng các đại từ xưng hô khiêm nhường: musuko con trai (tôn kính: musuko san / musuko sama), musume con gái (musume san / musume sama). Trong tiếng Việt chỉ dùng chung là con trai tôi, con gái tôi. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào việc sử dụng các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt thì không thể xác định được cách nói khiêm nhường. Vì thế cần phải căn cứ vào cấu trúc câu, trật tự từ, từ ngữ sử dụng để phán đoán cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt. Ví dụ: khi người khách đến chơi và nhìn thấy những món đồ trang trí được làm bằng tay rất tỉ mỉ đặt ở trong tủ và hỏi chủ nhà: A: Kore wa suteki desu ne. Doko de kaimashita ka (Những cái này dễ thương quá nhỉ. Anh mua nó ở đâu vậy) B: A, Sore wa minna kanai ga tukutte orimashita (À, những cái này thì tất cả đều do vợ tôi làm) A: Sodesu ka. Okusan wa ojouzu desu ne. Gejitsuka no you desu ne (Thế à, vợ anh khéo tay quá. Giống như một nghệ sĩ vậy) B: Ieie, kanai ga mada heta desu. Motto ganbatte orimasu (Không đâu ạ, nhà em còn vụng về lắm. Và còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa) Từ khiêm nhường: kanai (nhà tôi, bà xã tôi ), câu thể hiện sự khiêm nhường Kanai ga mada heta desu. Motto ganbatte orimasu. Cách nói này thể hiện sự khiêm tốn, nhún nhường của người nói khi được ai đó khen ngợi. Nếu không thể hiện sự khiêm tốn thì người nói sẽ trả lời Arigatou gozaimasu. Hontou ni jouzu desu (Vâng, cảm ơn anh đã quá khen. Quả thật là vợ tôi rất giỏi và khéo léo). Nếu người nói trả lời bằng câu trên thì người nghe cảm thấy người này quá tự tin, và có cảm giác người nghe không được tôn trọng. Do đó, việc lựa chọn những cách nói 66
67 khiêm nhường đúng chuẩn, làm hài lòng đối tượng giao tiếp là một quá trình luyện tập, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm của người nói. Tiếng Nhật và tiếng Việt là hai loại hình ngôn ngữ với những đặc trưng cơ bản khác nhau. Thêm vào đó, văn hóa xưng hô, văn hóa giao tiếp tuy có một số điểm tương đồng nhưng cũng có khá nhiều điểm khác biệt. Do đó, đối với người Việt Nam khi học tiếng Nhật, việc nói và sử dụng lưu loát kính ngữ trong tiếng Nhật nói riêng và tiếng Nhật nói chung là một việc làm không phải dễ. Chính vì thế, sau khi phân tích Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt ở chương hai, người viết tiến hành khảo sát ý kiến của 160 sinh viên năm thứ tư (ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại học Lạc Hồng) về kính ngữ trong tiếng Nhật. Qua đó, đưa ra một số nhận xét và đề xuất về giáo trình, cách dạy, cách học, những yếu tố gây khó khăn cho sinh viên trong việc học kính ngữ trong tiếng Nhật. Những vấn đề này sẽ được trình bày ở chương ba của luận văn. 67
68 CHƯƠNG III MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁCH NÓI TÔN KÍNH KHIÊM NHƯỜNG TRONG TIẾNG NHẬT 68
69 Trong quá trình giảng dạy tiếng Nhật thì kính ngữ là nội dung được bố trí giảng dạy cho người học ở cuối chương trình học sơ cấp (bài 49 và bài 50 sách Minna no nihongo - tiếng Nhật dành cho mọi người). Kính ngữ là sự vận dụng linh hoạt những từ ngữ dựa trên nhiều mối quan hệ khác nhau (đó là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giữa những nhân vật trong đề tài), là hình thức biểu hiện để làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa các nhân vật này. Kính ngữ trong tiếng Nhật là cách nói rất khó sử dụng đối với học viên là người nước ngoài, thậm chí ngay cả người Nhật cũng cho là khó. Bởi vì cho dù nắm vững các hình thức cùng với cách sử dụng kính ngữ thì cũng chưa chắc thể hiện được ý tôn kính, kính trọng của người nói hướng đến đối tượng giao tiếp. Do đó, để nói và sử dụng kính ngữ đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Kính ngữ đòi hỏi người sử dụng phải có thành ý khi nói với người khác bởi vì kính ngữ là cách nói không chỉ kính trọng người khác thông qua cách nói tôn kính hay khiêm nhường mà còn phải thể hiện bằng cả tấm lòng. Điều đó có nghĩa là lời nói tôn kính phải đi cùng với hành động và cử chỉ tôn kính. Kính ngữ giúp người nói thể hiện sự tôn kính người khác nhưng không phải lúc nào cũng sử dụng kính ngữ. Bởi vì kính ngữ nếu được sử dụng quá nhiều hoặc không đúng tình huống sẽ tạo ra hiệu quả trái với mong đợi của người nói. Chính vì vậy, khi giảng dạy tiếng Nhật cho sinh viên Việt Nam, giáo viên cần có những phương pháp giảng dạy phù hợp và có hiệu quả. Chẳng hạn, đối với động từ tôn kính có các hình thức chia như [O ~ ninaru] và [~ reru / ~ rareru] (tùy vào nhóm động từ cụ thể) thì hình thức nào sẽ là hình thức đặc trưng? Ngoài ra, khi sử dụng kính ngữ trong giao tiếp thì tùy vào những môi trường giao tiếp cụ thể mà hình thức kính ngữ sẽ có sự thay đổi khác nhau. Đó là các môi trường như giao tiếp trong nhà hàng, trung tâm thương xá, công ty, hội thảo, hội nghị Đối với người học tiếng Nhật thì yếu tố văn hóa là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng kính ngữ và tác động đến các mối quan hệ con người trong xã hội. Chính vì vậy, việc truyền đạt yếu tố văn hóa kính ngữ đặc thù của Nhật Bản và nhũng cách sử dụng kính ngữ phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh thực tế 69
70 cho người học tiếng Nhật là vấn đề cần được những người làm công tác giảng dạy tiếng Nhật quan tâm và lưu ý. Do đó, người viết xin mạn phép đưa ra một số nhận xét và đề xuất liên quan đến kính ngữ trong tiếng Nhật trong chương này để có thể phần nào giúp người dạy và người học một lần nữa nhìn lại cách dạy và cách học kính ngữ. Dưới đây là phần phân tích chi tiết từng câu hỏi trong bảng thăm dò ý kiến với đối tượng là 160 sinh viên năm thứ tư (các lớp 06DPN1, 06DPN2, 06DPN3, 06DPN4, 06DPN5, 06DPN6) ngành Nhật Bản học (khoa Đông Phương, trường Đại học Lạc Hồng, Biên Hòa, Đồng Nai) về kính ngữ trong tiếng Nhật. Sau mỗi câu hỏi là phần nhận xét chung ý kiến của sinh viên về những yếu tố ảnh hưởng đến cách dạy và học kính ngữ. Đó là tài liệu, giáo trình, cách dạy, cách học và một số yếu tố khác như sự hỗ trợ từ phía lãnh đạo nhà trường, những ảnh hưởng bởi văn hóa giao tiếp của hai quốc gia Nhật - Việt Yếu tố đầu tiên là giáo trình dạy - học. 3.1 Giáo trình: Câu 1: Theo bạn, giáo trình giảng dạy về kính ngữ hiện nay như thế nào? a. Giáo trình phong phú với nhiều trường hợp sử dụng kính ngữ trong thực tế và nhiều mẫu đối thoại luyện tập b. Giáo trình còn hạn chế, nội dung sơ sài, mơ hồ khiến người học vẫn chưa hiểu rõ cách sử dụng kính ngữ c. Có phần phụ lục về văn hóa ứng xử trong giao tiếp, do đó giúp người học dễ hiểu đồng thời phân biệt được từng trường hợp sử dụng d. Không có phần phụ lục về văn hóa ứng xử, đặc trưng văn hóa trong giao tiếp Kết quả thu được: Câu trả lời a: 08 người, chiếm 5 % Câu trả lời b: 103 người, chiếm 64,3 % Câu trả lời c: 07 người, chiếm 4,3 % Câu trả lời d: 42 người, chiếm 26,4 % 70
71 Biểu đồ 3.1.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ ý kiến về nội dung giáo trình kính ngữ 26.4% 5% 4.3% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d 64.3% Nhận xét và đề xuất: Trong số bốn câu trả lời cho câu hỏi về giáo trình giảng dạy kính ngữ thì câu trả lời b chiếm tỷ lệ nhiều nhất (64,3 %): Giáo trình còn hạn chế, nội dung còn sơ sài, mơ hồ khiến người học vẫn chưa hiểu rõ cách sử dụng kính ngữ. Đây có thể coi là nhược điểm đối với giáo trình giảng dạy và học các hình thức xưng hô trong giao tiếp của hai ngôn ngữ Nhật Việt. Hiện nay, giáo trình biên soạn về kính ngữ trong tiếng Nhật dành cho bậc đại học tại trường Đại học Lạc Hồng là sách Minna no nihongo (tiếng Nhật dành cho mọi người). Ở bài 49 và bài 50 trong cuốn sách này là phần giới thiệu về những ví dụ, bảng chia động từ tôn kính khiêm nhường trong tiếng Nhật và một số bài tập áp dụng. Tuy nhiên, đối với một hình thức giao tiếp khó sử dụng như kính ngữ thì việc chỉ đưa ra một số mẫu ví dụ điển hình đã khiến cho người học thật sự gặp lúng túng trong việc hiểu đầy đủ ý nghĩa sử dụng. Hơn thế nữa, trong giáo trình tiếng Nhật mà người Việt đang học hiện nay (minnna no nihongo), nhìn chung đều sử dụng một hình thức nói trong giao tiếp là cách nói có yếu tố lịch sự [desu danh từ / masu - động từ]. Trong đó chỉ có bài 38 là đề cập 71
72 đến cách nói thông thường, thân mật trong gia đình, bạn bè [da / dearu danh từ, ru - động từ]. Cách nói tôn kính khiêm nhường chỉ xuất hiện ở bài 49, 50. Chính vì vậy, nếu có thể, người viết mong muốn sẽ có sự thay đổi trong vệc trình bày hình thức và biên soạn lại nội dung trong giáo trình giảng dạy. Theo đó, ở mỗi bài, mỗi phần sẽ có những đoạn hội thoại với những vị trí và cấp bậc khác nhau giữa người nói với đối tượng giao tiếp. Do đó, tùy theo từng mối quan hệ con người mà có cách nói khác nhau, cố gắng tránh sử dụng chung một hình thức nói duy nhất là cách nói lịch sự phổ biến [desu / masu]. Số phần trăm chiếm tỷ lệ nhiều thứ hai là câu trả lời d (26,4 %): Không có phần phụ lục về văn hóa ứng xử, đặc trưng văn hóa trong giao tiếp. Kết quả này cho thấy vai trò của việc biên soạn phần phụ lục văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Việt Nam và Nhật Bản. Hơn thế nữa, văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Chính vì vậy, nếu người học hiểu thêm về văn hóa giao tiếp thì sẽ không gặp phải những cú sốc văn hóa, do đó sẽ có cách sử dụng đúng hình thức xưng hô trong những trường hợp cụ thể trong cuộc sống. Tỷ lệ ý kiến chiếm 5 % là câu trả lời a với nội dung trả lời cho rằng giáo trình phong phú với nhiều trường hợp sử dụng kính ngữ trong thực tế và nhiều mẫu đối thoại luyện tập. Trong tổng số 100 % tỷ lệ ý kiến của sinh viên về giáo trình giảng dạy kính ngữ thì chỉ có 5 % ý kiến nhận xét là giáo trình phong phú. Điều đó chứng tỏ nội dung trình bày trong giáo trình vẫn chưa đáp ứng đủ những yêu cầu cho việc dạy và học hiện nay. Đó là điểm hạn chế cần được khắc phục và điều chỉnh. Như vậy, có tới 95 % ý kiến phản ánh về nội dung của giáo trình còn chưa đáp ứng yêu cầu dạy và học. Do đó, ảnh hưởng đến cách truyền đạt nội dung bài giảng của giáo viên và mức độ tiếp thu cũng như áp dụng bài học của sinh viên. Số phần trăm còn lại là 4,3 % - câu trả lời c với ý kiến nhận xét cho rằng giáo trình có thêm phần phụ lục về văn hóa ứng xử trong giao tiếp. Với tỷ lệ ý kiến quá ít như thế này thì nội dung giáo trình cần bổ sung thêm những phần phụ lục về văn hóa giao tiếp. Qua đó chứng tỏ rằng văn hóa đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp. Nếu hiểu biết văn hóa người học sẽ lựa chọn những hình thức xưng hô phù hợp với từng 72
73 đối tượng giao tiếp. Trong giao tiếp hàng ngày trong xã hội Nhật Bản, có sự phân chia về cấp độ lời nói một cách rõ ràng. Theo đó, nếu là mối quan hệ bạn bè thì sẽ sử dụng cách nói thông thường, cách nói thân mật với hình thức biểu hiện như [da / dearu danh từ] Trong trường hợp là những người lớn tuổi hơn thì sẽ dụng cách nói có hình thức lịch sự như [desu danh từ / masu - động từ]. Đối với người bậc bề trên (giáo viên, cấp trên ) hoặc những người không quen biết, lần đầu gặp mặt sẽ sử dụng cách nói tôn kính khiêm nhường. Để sinh viên tiếp thu tốt cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật, ngoài việc thiết kế giáo án với những câu giao tiếp thường ngày trong xã hội thì cũng cần biên soạn thêm những giáo trình khác. Chẳng hạn, những cách nói kính ngữ trong kinh doanh thương mại, trong trường học, trong hội nghị - đàm phán, trong giao lưu quốc tế Qua đó, sinh viên có thể so sánh từng cách nói, từng trường hợp sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể, những đối tượng cụ thể để khi giao tiếp trực tiếp sẽ không gặp lúng túng, khó khăn trong việc lựa chọn từ ngữ thích hợp. Trong giáo trình giảng dạy kính ngữ nên biên soạn một số cách sử dụng kính ngữ như: cách sử dụng kính ngữ trong thư từ. Vì quá trình giao tiếp hàng ngày, một công ty, doanh nghiệp không chỉ gặp nhau trực tiếp nói chuyện hoặc nói chuyện trên điện thoại mà còn giao tiếp với nhau qua hình thức thư từ. Thư được chia làm hai loại: thư cá nhân và thư thương mại. Thư được viết ra là để cho người khác đọc cho nên cần thiết phải sử dụng kính ngữ. Đối với thư cá nhân thì tùy theo tình cảm, mối quan hệ giữa người viết và người nhận mà cách sử dụng từ có khác nhau. Ở đây không nói đến hình thức thư cá nhân mà chỉ đề cập đến hình thức thư thương mại. Thư thương mại bao gồm: thư trong công ty và thư ngoài công ty. Đối với thư trong công ty thì mức độ sử dụng kính ngữ được hạn chế đến mức tối thiểu, còn thư ngoài công ty thì việc sử dụng kính ngữ thích hợp, chính xác và không hạn chế là điều đương nhiên. Để có thể sử dụng hình thức thích hợp, chính xác khi viết một lá thư thương mại cho công ty khác thì người viết phải biết vận dụng thành thạo những từ vốn có trong thư từ. Sự vận dụng linh hoạt, khéo léo và có hiệu quả sẽ làm tăng sự trang 73
74 trọng, cung kính trong thư từ. Sau đây là một số biểu hiện vốn có trong thư từ khi viết một lá thư thương mại. Hình thức biểu hiện tôn kính thông thường Hình thức biểu hiện tôn kính trong thư từ Ý nghĩa Goanshin kudasai Gokyushin negaimasu Xin ngài hãy an tâm Shoshuu ni te Shomen no ue de Trong thư Okarada wo tasetsu ni Gojiai senitsu ni Xin ngài hãy giữ gìn ngọc thể Sukoyata Gokenshoo Chúc ngài mạnh khỏe Otassha Goiken wo ukagaitaku Goseiteki Kii wo etaku Xin ngài hãy giữ gìn sức khỏe Tôi muốn nghe ý kiến của ngài Oide itadakimasu Goraiga itadakimasu Tôi muốn được ngài đến cho Gohairyo no hodo Gokouhai no hodo Xin ngài quan tâm chiếu cố đến tôi Ngoài ra, trong giáo trình nên có bảng thống kê tóm tắt những từ ngữ thay đổi khi nói lịch sự, tôn kính. Từ chỉ thị, trạng từ, danh từ, biểu hiện chào hỏi: Từ thông thường Từ lễ phép, trang trọng Ý nghĩa Kotchi Kochira Hướng này Sotchi Sochira Hướng đó Atchi Achira Hướng kia Dotchi Dochira Hướng nào Doko Dochira Ở đâu Kyo Honjitsu Hôm nay Ashita Myonichi Ngày mai 74
75 Tsugi no hi Yokujitsu Ngày hôm sau Tsugi no tsugi no hi Yokuyokuhi Hai ngày sau Asatte Myogonichi Ngày mốt Kino Sakujitsu Hôm qua Ototoi Issakujitsu Hôm kia Kyonen Sakunen Năm ngoái Yuube Sakuya Tối hôm qua Kesa Koncho / kesahodo Sáng nay Ashita no asa Myocho Sáng mai Kyo no yoru Konya Tối nay Ima Tadaima Bây giờ Kono aida Senjitsu Lần trước Kondo Kono tabi / konohodo / konkai Lần này Atode Nochi hodo Sau đó Sakki Sakihodo Lúc nãy Korekara Kongo / Koreyori Từ nay trở đi Sugoku / Totemo Taihen / Hijoni Rất Chotto / Sukoshi Shosho Một chút, một ít Hayaku Hayame ni Trước, sớm Honto ni Makoto ni Thật sự Sugu Sassoku / Sokyu ni Liền, ngay lập tức Totemo ~ nai Totei ~ nai Rất ~ không Dou Ikaga Thế nào Ikura Ikahodo / Oikura Bao nhiêu Ii Yoroshi / Kekko Tốt, được 75
76 Tsumetai mizu Ohiya Nước mát Sumimasen Sayonara Moshiwake arimasen / Osoreirimasu Shitsurei shimasu / Shitsurei itashimasu Xin lỗi Tạm biệt Arigato Domo arigato gozaimsu Cảm ơn Đại từ nhân xưng Từ thông thường Từ lễ phép, trang trọng Ý nghĩa Watashi / Atashi / Boku / Ore Watakushi Watashitachi Watakushi domo Chúng tôi, chúng ta Omae Anata (sama) Bạn, anh, chị Tôi Kono hito Kono kata / Kochira no kata Người này Kono hitotachi Kono katagata / Kochira no katagata Sensei tachi Sensei gata Các thầy Từ chỉ mối quan hệ trong - ngoài: Những người này Người trong (từ khiêm nhường) ~ của tôi Người ngoài (từ tôn kính) ~ của anh, chị, ngài Ý nghĩa Kazoku Gokazoku Gia đình Chichi / Oyaji Otosan / sama Bố Haha / Ofukuro Okasan / sama Mẹ Otto / Otaku Goshujin / sama Chồng Tsuma / kanai / nyobo Okusan / sama Vợ Sofu Ojisan / sama Ông 76
77 Sobo Obasan / sama Bà Kodomo Okosan Con Musuko (O) botchan / Obotchama Musuko san / Goshisoku Con trai Musume Ojosan / Musume san Con gái Kyodai Gokyodai Anh em Ani Onisan / sama Anh trai Ane Onesan / sama Chị gái Ototo Ototosan Em trai Imoto Imotosan Em gái Shinrui Goshinrui Bà con Oji Ojisan / sama Chú, bác, cậu Oba Obasan / sama Dì, mợ, thím, cô Itoko Itokosan Anh em họ Mago Omagosan Cháu Uchi no mono Ouchi no kata / Otaku no kata Người nhà Kono hito Kono kata / Kochira no kata Người này Minna Minasama Mọi người Kaisha no mono Kaisha no kata Người của công ty Yamashita Yamashita san / sama Ông Yamashita Shacho no Tanaka Tanakashacho Ông giám đốc Tanaka Kyoshi Sensei Thầy giáo keikan Omawari san Cảnh sát Isha Oisha san / sama Bác sĩ Namae Gohomei Tên 77
78 Settaku Otaku Nhà Heisha Kisha Công ty Socha Sosan Trà thô Cơm nước xuềnh xoàng Phần kế tiếp sẽ là ý kiến của sinh viên về cách dạy kính ngữ trong tiếng Nhật của sinh viên. Sau đó là phần nhận xét và một số đề xuất của người viết về các phương pháp giảng dạy kính ngữ. 3.2 Cách dạy của giáo viên: Câu 2: Theo bạn, cách giảng dạy của giáo viên về kính ngữ như thế nào? a. Hay, dễ hiểu, sinh động, giáo viên đã đưa ra một số tình huống giao tiếp trong các ngữ cảnh khác nhau để sinh viên luyện tập b. Giáo viên còn dạy một chiều, chưa lấy sinh viên làm trung tâm, chưa tạo ra những tình huống giao tiếp và các ngữ cảnh luyện tập c. Trong giờ dạy, giáo viên chỉ dạy những nội dung trong sách giáo khoa, chưa bổ sung những bài dạy thêm về văn hóa xưng hô, văn hóa giao tiếp của hai quốc gia. Do đó sinh viên chưa nhận ra điểm tương đồng và khác biệt trong cách nói kính ngữ của hai ngôn ngữ. d. Cả b và c Kết quả thu được: Câu trả lời a: 10 người, chiếm 6.2%. Câu trả lời b: 13 người, chiếm 8.1 %. Câu trả lời c: 54 người, chiếm 34 %. Câu trả lời d: 83 người, chiếm 51.7%. 78
79 Biểu đồ 3.2.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ ý kiến về cách dạy của giáo viên 6.2% 8.1% 51.7% 34% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d Nhận xét và đề xuất: Trong biểu đồ 3.2, 8.1% (câu trả lời b) tỷ lệ ý kiến của sinh viên cho rằng Giáo viên còn dạy một chiều, chưa lấy học sinh làm trung tâm, chưa tạo ra những tình huống giao tiếp và các ngữ cảnh luyện tập. Đồng thời 34% trong câu trả lời c thì nhận xét Trong giờ dạy, giáo viên chỉ dạy những nội dung trong sách giáo khoa, chưa bổ sung những bài dạy thêm về văn hóa xưng hô, văn hóa giao tiếp của hai quốc gia. Do đó sinh viên chưa nhận ra điểm tương đồng và khác biệt trong cách nói kính ngữ của hai ngôn ngữ. Tỷ lệ ý kiến chiếm số phần trăm nhiều nhất là câu trả lời d (51.7 %) - tổng hợp hai ý kiến b và c. Trong khi đó chỉ có 6.2 % ý kiến cho rằng Cách giảng dạy của giáo viên về kính ngữ hay, đễ hiểu, sinh động, giáo viên đã đưa ra một số tình huống giao tiếp để sinh viên luyện tập (câu trả lời a). Qua đó, có thể kết luận rằng sinh viên mong muốn giáo viên có thể thay đổi phương pháp giảng dạy sao cho dễ tiếp thu bài học và có thể ứng dụng linh hoạt trong giao tiếp hàng ngày. Chính vì thế, người viết xin được đề xuất một số phương pháp giảng dạy như sau: 79
80 Thứ nhất, về cách tạo không khí trong lớp học. Vì yếu tố này có ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu bài học của sinh viên. Theo đó, giáo viên cần cố gắng tạo bầu không khí sinh động và môi trường học tập thân thiện trong lớp học. Chẳng hạn, trong giờ học nói, giáo viên có thể linh động sắp xếp bàn ghế trong lớp thành những nhóm nhỏ hoặc thành hình chữ U (với ba mặt ngồi hướng vào nhau), trong đó ở giữa sẽ là khoảng trống và phía mặt còn lại sẽ là chỗ ngồi của giáo viên. Khoảng trống giữa lớp sẽ giúp cho giáo viên có thể tiếp xúc trực tiếp với từng sinh viên trong lớp học. Qua đó, giáo viên có thể hướng dẫn và chỉnh sửa trực tiếp cách phát âm cũng như cách dùng từ, cách đặt câu của từng sinh viên. Như thế, sẽ tạo không khí thân thiện, thoải mái giữa thầy và trò và không gây cảm giác nhàm chán, gò bó cho sinh viên. Sinh viên sẽ có cảm giác giờ học giống như một buổi thảo luận, họp nhóm chứ không phải là những giờ học căng thẳng, ép buộc, không hiệu quả. Chỉ có không khí học thoải mái, năng động thì sinh viên mới có thể tiếp thu bài học tốt được. Hơn nữa, với cách bố trí bàn ghế như vậy sẽ giúp cho sinh viên có cơ hội phát biểu ý kiến thảo luận, những ý kiến thắc mắc về nội dung bài học một cách dễ dàng. Từ đó, giáo viên có thể nhận ra được những ưu điểm và khuyết điểm trong cách tiếp thu bài học của sinh viên và có những biện pháp khắc phục phù hợp. Thứ hai, trong giờ học, giáo viên có thể đưa ra một số quy định bắt buộc trong lớp. Chẳng hạn, nếu như có sinh viên đi học trễ thì sẽ phải nói lời xin lỗi với giáo viên bằng hình thức cách nói kính ngữ như thế nào. Hoặc, nếu muốn xin phép đi ra ngoài hay xin phép nghỉ học thì phải sử dụng hình thức nói kính ngữ như thế nào thì đúng. Qua đó, sinh viên sẽ có ý thức và thái độ nghiêm túc trong việc học hơn. Điều quan trọng là sinh viên sẽ biết cách sử dụng một số hình thức nói kính ngữ trong một số hoàn cảnh nhất định như cách nói xin phép, cách nói xin lỗi Khi sinh viên có thể tự mình nói ra ý kính trọng được thể hiện qua cách nói kính ngữ với đối tượng giao tiếp (giáo viên) thì đó sẽ là cách học tốt nhất. Thông qua đó, có thể thấy rằng phương pháp giảng dạy của giáo viên đã đạt được hiệu quả nhất định. Thứ ba, trong giờ học, ứng với mỗi nội dung giảng về kính ngữ như cách nói tôn kính, cách nói khiêm nhường, cách nói lịch sự, uyển chuyển thì giáo viên có thể 80
81 tạo ra những tình huống giao tiếp cụ thể để sinh viên thực hiện. Chẳng hạn, giáo viên có thể đưa ra một số tình huống như cách trong nhà hàng (giữa nhân viên phục vụ và khách hàng ), trong công ty (giữa nhân viên và cấp trên, giữa nhân viên và khách hàng), trong gia đình Sau đó, giáo viên sẽ chia nhóm cho sinh viên luyện tập bằng cách sắp xếp các vai giao tiếp sẽ xuất hiện trong đoạn hội thoại. Đối với tình huống giao tiếp trong nhà hàng thì cần ít nhất một nhóm khoảng sáu người, trong đó sẽ có một sinh viên đóng vai nhân viên phục vụ, một sinh viên sẽ đóng vai chủ quán, một sinh viên sẽ đóng vai nhân viên tính tiền và ba sinh viên sẽ đóng vai khách hàng. Giáo viên sẽ cho khoảng thời gian để sinh viên tự luyện tập với nhau và đến tiết học tiếp theo sẽ tham gia hội thoại để giáo viên kiểm tra. Khi phân chia tình huống giao tiếp, giáo viên cũng cần lưu ý sinh viên cần phải tạo khung cảnh giao tiếp giống thực tế. Theo đó, nếu là cảnh giao tiếp ở nhà hàng thì cần chuẩn bị bàn ghế, khăn trải bàn, lọ hoa, đồng phục của nhân viên, tên quán, menu, nước uống, thức ăn Chỉ có hoàn cảnh giao tiếp giống thực tế thì mới có thể tạo hứng thú cho sinh viên thực hành luyện tập những cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật nói riêng và cách dạy ngoại ngữ nói chung. Tình huống được đưa ra là: có một nhóm khách gồm ba người đến nhà hàng dùng bữa thì nhân viên cần phải có thái độ, cử chỉ như thế nào để thể hiện sự tôn trọng khách hàng, tạo cho khách cảm giác vui vẻ, thoải mái và tạo ấn tượng tốt với nhà hàng. Theo đó, khi sinh viên thực hành luyện tập, giáo viên sẽ quan sát và chỉnh sửa ngay những lỗi dùng từ, cách đặt câu chưa thể hiện được sự tôn kính khách hàng. Giáo viên sẽ hướng dẫn sinh viên những cách nói thường được sử dụng trong nhà hàng, khách sạn Chẳng hạn, câu chào ngay khi khách bước vào là Irassaimase (xin kính chào quý khách), khi muốn hỏi khách hàng đã đặt món chưa thì nên hỏi bẳng hình thức kính ngữ là: Gochumon wa okimari deshou ka (Quý khách đã gọi món chưa ạ). Trong đó, okimari deshou ka là cách nói tôn kính của kimatteimasu ka (đã gọi chưa). Sau đây là đoạn hội thoại mẫu giữa nhân viên phục vụ và khách hàng nữ: Nhân viên: Irassaimase (Xin kính chào quý khách) 81
82 Khách hàng: 11 ji ni yoyaku shita Hasegawa desu ga (Tôi là Hasegawa đã dặt trước lúc 11 giờ) Nhân viên: Hasegawasama degozaimasu ne. Omachishiteorimashita. 2 meisama desu ne (Chị Hasegawa, chúng tôi đã đợi chị. Đoàn của chị có 2 người phải không) Khách hàng: Hai (Vâng) Nhân viên: Kochira e douzo (Xin mời chị đi lối này). Nhân viên: Kochira, menu degozaimasu. Gochuumon ga okimari ni narimashitara, oukagai itashimasu (Đây là menu. Nếu quý khách cần gọi món, chúng tôi sẽ tới ngay). Khách hàng: Chumon, onegaishimasu (Tôi xin gọi món) Nhân viên: Omataseitashimashita (Xin lỗi vì đã để quý khách đợi lâu) Khách hàng: Kono sushi wo 2 tsu onegaishimasu (Cho tôi hai phần sushi) Nhân viên: Kashikomarimashita. Kohi ka kocha wo oerabi itadakemasuga (Vâng, tôi hiểu rồi. Quý khách có gọi thêm cà phê hay trà không ạ?) Khách hàng: Jaa, kohi wo 2 tsu. Sorekara, kono special soup arimasu ka (Vậy thì cho tôi hai ly cà phê. À, có món súp đặc biệt không vậy?) Nhân viên: Kochira no soup, kyoshuku desu ga, tadaima junnbichuu degozaimashite (Xin lỗi, món súp này đang làm ạ) Khách hàng: A, so desu ka. Zannen Nhân viên: Yoru no menu degozaimasu node Moshiwake gozaimasen. Osake nado, onomimono wa ikaga itashimasho ka (Xin lỗi, vì đây là thực đơn của buổi tối nên chưa kịp chuẩn bị. Vậy quý khách có cần gọi thêm rượu hay đồ uống gì nưa không ạ?) Khách hàng: Iie, kekko desu (Thôi được rồi) Nhân viên: Kashikomarimashita. Sore dewa, gochumon wo kurikae sasete itadakimasu. Sushi wo ofutatsu, kohi wo ofutatsu desu ne. Shosho omachi kudasaimase (Tôi hiểu rồi. Vậy thì xin cho phép tôi nhắc lại những món quý khách 82
83 đã chọn: hai phần sushi và hai phần cà phê. Xin quý khách vui lòng chờ trong giây lát) Trong đoạn hội thoại này, giáo viên sẽ hướng dẫn cho sinh viên những cách nói kính ngữ như: kyoshuku desu ga là cách nói lịch sự của sumimasen xin lỗi, kashikomarimashita là cách nói thường dùng khi nhân viên trả lời khách khi khách đã gọi món, okimari ni narimashitara là cách nói tôn kính của kimattara quyết định Trong quá trình học ngoại ngữ, để đạt được hiệu quả như mong đợi thì bên cạnh giáo trình, cách dạy của giáo viên thì cách học của mỗi sinh viên cũng đóng vai trò quan trọng. Vì chỉ có cách học đúng đắn cùng với thái độ và tinh thần học tập nghiêm túc thì sinh viên mới có thể học tốt ngoại ngữ. Dưới đây là nội dung câu hỏi thăm dò ý kiến của sinh viên về cách học kính ngữ trong tiếng Nhật. (khảo sát 160 sinh viên năm thứ tư ngành Nhật Bản học trường Đại học Lạc Hồng) 3.3 Cách học của sinh viên: Câu 3: Theo bạn, cách học kính ngữ của sinh viên hiện nay như thế nào? a. Thụ động, chỉ dựa vào sách giáo khoa, không chủ động tìm tài liệu tham khảo cũng như thực hành luyện tập b. Chủ động tự luyện tập và đàm thoại với bạn bè, thầy cô, học thêm ở trung tâm tiếng Nhật, tìm thông tin tài liệu trên internet, tra cứu sách vở về kính ngữ và văn hóa giao tiếp của Việt Nam và Nhật Bản c. Giáo viên dạy như thế nào thì học như vậy, không bổ sung thêm kiến thức bên ngoài d. Cả a và c Kết quả thu được: Câu trả lời a: 36 người, chiếm 22.5 % Câu trả lời b: 10 người, chiếm 6.25 % Câu trả lời c: 20 người, chiếm 12.5 % Câu trả lời d: 94 người, chiếm % 83
84 Biểu đồ 3.3.1: Biểu đồ thể hiện cách học kính ngữ của sinh viên 22.5% 58.75% 6.25% 12.5% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d Nhận xét và đề xuất: Số ý kiến chiếm tỷ lệ nhiều nhất là % (câu trả lời d), tiếp theo là 12.5 % (câu trả lời c) và 22.5 % (câu trả lời a) về cách học của sinh viên. Cả ba ý kiến này đều cho rằng: Cách học kính ngữ hiện nay của sinh viên nhìn chung đều mang tính thụ động, phần lớn chỉ dựa vào sách giáo khoa. Hơn thế nữa, sinh viên cũng không chủ động tìm tài liệu tham khảo cũng như chưa có ý thức tự thực hành luyện tập. Trong giờ học, sinh viên còn ỷ lại, giáo viên dạy như thế nào thì học như vậy, không tìm kiếm thêm tài liệu bên ngoài. Chính vì vậy, khi giao tiếp với người Nhật, sinh viên còn lúng túng và gặp khó khăn trong việc lựa chọn các hình thức xưng hô phù hợp. Trong kết quả điều tra này chỉ có 6.25 % (câu trả lời b) nhận xét là: Sinh viên đã chủ động tự luyện tập và đàm thoại với bạn bè, thầy cô, học thêm ở trung tâm tiếng Nhật, tìm tài liệu trên internet, tra cứu sách vở về kính ngữ và văn hóa giao tiếp của Việt Nam và Nhật Bản. Như vậy, để nâng cao kiến thức cũng như có thể tự tin khi giao tiếp với mọi người trong từng trường hợp cụ thể người học cần tích cực chủ động hơn trong cách học. Đồng thời tham khảo ý kiến của những người học trước và lựa chọn những cách học hiệu quả. Qua đó, người viết xin được đề xuất một số phương pháp học kính ngữ như sau: 84
85 Trong giao tiếp, không hẳn là người nói phải tuyệt đối hóa cách sử dụng kính ngữ, tuy nhiên, với vị trí là một cá thể trong xã hội, đồng thời có thể biểu hiện các mối quan hệ thì cần thiết phải sử dụng kính ngữ. Tuy nhiên, người nói cũng cần phải chú ý là cho dù có sử dụng đúng kính ngữ nhưng thái độ biểu hiện không tốt thì cách nói kính ngữ cũng không đạt hiệu quả trong giao tiếp. Do đó, người sử dụng kính ngữ cần thận trọng trong cách biểu đạt thái độ và sử dụng những từ kính ngữ. Mối quan hệ bên trong uchi, bên ngoài soto trong cách giao tiếp của người Nhật là vấn đề mà người học cần lưu ý. Do đó, cùng với việc học một số đặc trưng cơ bản về mối quan hệ này trong trường học, sinh viên cần tích lũy kinh nghiệm giao tiếp thông qua việc làm thêm tại các công ty Nhật hoặc các nhà hàng Nhật ở các khu công nghiệp. Như vậy, sinh viên sẽ có cơ hội tiếp xúc với người Nhật, có cơ hội nghe và sử dụng cách nói kính ngữ đã được học trong trường vào hoàn cảnh thực tế (tiếp khách hàng, giao dịch trao đổi)... Chẳng hạn, trong cửa tiệm, trong lúc tính tiền cho khách, người nói khi nhận được tiền từ khách sẽ nói: [ en wo oazukarishmasu] (Tôi đang giữ của quý khách yên). Đây là cách nói thể hiện ý khiêm nhường của người nói đồng thời biểu hiện ý tôn kính người đối thoại một cách gián tiếp. Kính ngữ được người nước ngoài thậm chí là ngay cả người Nhật cũng cho rằng đây là cách nói rất khó. Nhưng nếu như người học cứ ngần ngại trước khi sử dụng và trong đầu lúc nào cũng giữ mãi ý nghĩ kính ngữ khó thì cho dù thời gian có trôi qua bao nhiêu đi chăng nữa thì có lẽ người học vẫn không thể tiến bộ trong việc sử dụng kính ngữ. Do đó, để sử dụng nhuần nhuyễn và trôi chảy kính ngữ trước tiên người sử dụng cần phải thay đổi suy nghĩ, cần phải bỏ đi quan niệm cho rằng kính ngữ khó. Bởi vì đối với người nước ngoài khi học bất cứ một ngoại ngữ nào khác với tiếng mẹ đẻ, thì điều đó cũng là một việc khó khăn. Vì thế, học kính ngữ cũng giống như học một ngoại ngữ. Nếu không rèn luyện, thực tập mỗi ngày sẽ khó thành công. Nếu mỗi ngày đều học những từ ngữ, những cách thức sử dụng kính ngữ mà không tự mình nói kính ngữ thì sẽ khó có thể nói kính ngữ với mọi người. Và điều quan trọng là nếu không sử dụng được kính ngữ trước mặt mọi người thì kính ngữ 85
86 mà đã được học cẩn thận mỗi ngày sẽ không có ý nghĩa. Một trong những lý do khiến cho người học không sử dụng kính ngữ mà niều người đưa ra là nếu sử dụng kính ngữ sai thì sẽ trở nên vô lễ. Điều này cũng đúng bởi vì sử dụng toàn là cách nói kính ngữ thích hợp để bày tỏ lòng tôn kính trong một số trường hợp cũng dẫn đến sự hiểu lầm đối với người nghe chứ đừng nói tới là sử dụng kính ngữ sai. Nhưng dù sao đi nữa nếu cách sử dụng kính ngữ với những từ ngữ kỳ cục hay khó nghe nhưng được người nói sử dụng có thành ý thì sẽ được mọi người chấp nhận còn hơn là sử dụng những từ ngữ và những lời nói chính xác nhưng không truyền đạt được ý tôn kính thì sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, người học nên luyện tập kỹ năng nói kính ngữ thật nhiều để có thể sử dụng linh hoạt và thích hợp trong những trường hợp và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Có thể thời gian ban đầu đối với người luyện tập kính ngữ có thể nói là vô cùng khó khăn đôi khi còn bị hiểu nhầm và cảm thấy xấu hổ. Thế nhưng, nếu cố gắng vượt qua được sự xấu hổ đó một cách kiên trì và liên tục thì sẽ làm chủ được kính ngữ. Do đó, phương pháp học kính ngữ là quen hơn là học. Hãy cố gắng quen với kính ngữ, đừng sợ thất bại mà hãy đối mặt với thất bại nhiều lần trong giai đoạn đầu.. Con đường tiến tới và chinh phục kính ngữ trong tiếng Nhật là do người học tự tạo ra. Nếu người học chỉ học kính ngữ trong sách vở mà không vận dụng vào thực tế thì việc học kính ngữ sẽ trở nên giáo điều, khô cứng và máy móc. Khi sử dụng kính ngữ trong các trường hợp giao tiếp trong thực tế, người học sẽ có thể nhận ra được những cách sử dụng với những mức độ tôn kính khác nhau. Do đó sẽ nhận ra được những kính ngữ chỉ sử dụng trong hình thức văn viết, thư từ, sách báo và những kính ngữ thường được sử dụng trong thực tế. Qua đó, người học sẽ nhận ra được mức độ tôn kính trong cách sử dụng các hình thức kính ngữ mà người Nhật thường sử dụng trong những trường hợp giao tiếp thường ngày. Ví dụ: Kakareru, Okaki ni naru, Okaki osobasu Cả ba động từ này đều là hình thức tôn kính của động từ Kaku (viết) nhưng cách nói hoàn toàn khác nhau. Trong khi đó tuy là ba cách nói khiêm nhường hoàn toàn khác nhau: Itadaku, 86
87 Chodai suru, Tamawaru (nhận) nhưng mức độ tôn kính lại giống nhau. Điều này có nghĩa là từ nguyên gốc tuy giống nhau nhưng mức độ tôn kính thì khác nhua còn những từ hoàn toàn khác nhau nhưng mức độ tôn kính lại ngang nhau. Do đó, người sử dụng cần phải vận dụng kính ngữ thật linh hoạt phù hợp với từng tình huống. Theo đó, trường hợp trịnh trọng thì từ ngữ phải hết sức lịch sự và có mức độ tôn kính cao. Để đạt được sự linh hoạt trong cách sử dụng kính ngữ thì ngoài việc học trong trường học người học cần phải áp dụng trong thực tế đời sống. Chỉ có kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thì hiệu quả của công việc mới đạt mức độ cao. Hơn thế nữa chỉ có giao tiếp trong thực tế, người học mới có thể nhận ra một số cách nói kính ngữ mà người Nhật thường sử dụng trong cuộc sống.ví dụ:trường hợp động từ Iku (đi), nếu thêm trợ động từ Reru vào phía sau thì sẽ trở thành động từ tôn kính Ikarerru, cách chia này đơn giản nhưng mức độ tôn kính không cao. Ngoài cách biến đổi thêm vào trợ động từ kính ngữ thì còn một hình thức kính ngữ khác mà người Nhật thường sử dụng trong giao tiếp, đó là động từ kính ngữ đặc biệt Irassharu. Ngoài ra, còn có một số động từ khác cũng có kính ngữ đặc biệt như: Iu Ossharu (nói) thì Ossharu có mức độ tôn kính cao hơn cách nói kính ngữ Iwareru. 3.4 Những yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng học của sinh viên Câu 4: Những nguyên nhân khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc học kính ngữ là gì? a. Giáo trình quá ít, tài liệu tham khảo không có, nội dung trình bày trong giáo trình không đầy đủ, mơ hồ, không có nhiều ví dụ luyện tập, không có phụ lục về văn hóa xưng hô trong giao tiếp. b. Cách dạy của giáo viên chưa tạo ra sự hứng thú trong học tập đồng thời tạo cảm giác nhàm chán cho sinh viên c. Ý thức học tập của sinh viên không tốt, không mạnh dạn luyện tập, không chủ động tìm kiếm tài liệu tham khảo d. Cả a, b và c 87
88 Kết quả thu được: Câu trả lời a: 24 người, chiếm 15 %. Câu trả lời b: 08 người, chiếm 5 %. Câu trả lời c: 27 người, chiếm 17 %. Câu trả lời d: 101 người, chiếm 63 %. Biểu đồ 3.4.1: Biểu đồ thể hiện nguyên nhân khó khăn khi học kính ngữ 15% 63% 5% 17% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d Nhận xét và đề xuất: Để học hiệu quả cách sử dụng hình thức kính ngữ thì sinh viên cần chú ý đến những nguyên nhân gây khó khăn trong việc học. Từ đó, có thể đưa ra các biện pháp khắc phục và phương pháp học tập phù hợp. Trong các câu trả lời thì có 17 % ý kiến cho rằng: Ý thức học tập của sinh viên không tốt, không mạnh dạn luyện tập, không chủ động tìm kiếm tài liệu tham khảo (câu trả lời c). Và có 15 % ý kiến cho rằng: Giáo trình dạy - học quá ít, nội dung trình bày không đầy đủ, không có nhiều ví dụ luyện tập, không có phần phụ lục về văn hóa xưng hô trong giao tiếp (câu trả lời a). 5 % ý kiến cho rằng: Cách dạy của giáo viên chưa tạo ra sự hứng thú trong giờ học đồng thời tạo cảm giác nhàm chán cho sinh viên (câu trả lời b). Và 63 % (câu trả lời d) ý kiến cho rằng cả ba câu trả lời trên đều là những nguyên nhân gây khó khăn chủ yếu trong việc học và sử dụng cách nói kính ngữ của sinh viên. Câu trả lời 88
89 này một lần nữa chứng tỏ rằng: cả ba yếu tố là giáo trình, cách dạy của giáo viên và ý thức học của sinh viên là những trở ngại lớn nhất khiến cho sinh viên gặp những rắc rối và nhầm lẫn trong từng cách nói kính ngữ trong giao tiếp. Sinh viên cần đọc thêm nhiều tài liệu tham khảo viết về kính ngữ ngoài giáo trình trong sách giáo khoa (bài 49, 50 sách Minna no nihongo) để có thể có những suy nghĩ và hiểu biết chính xác về kính ngữ trong tiếng Nhật. Đồng thời có thể hạn chế những suy nghĩ nhầm lẫn về kính ngữ như: chỉ cần sử dụng các động từ và danh từ tôn kính thì có thể biểu hiện được ý kính trọng của người nói. Đây là cách suy nghĩ không chính xác vì kính ngữ không đơn thuần là một cách nói khi nói ra thì hiệu quả sẽ được phát huy ngay. Do đó, người sử dụng kính ngữ cần phải kết hợp linh hoạt giữa cách sử dụng từ kính ngữ và cách thức biểu hiện ý tôn kính. Trong đó, thái độ tôn kính cũng là một yếu tố quan trọng. Vì cho dù có nói ra toàn là những lời tôn kính nhưng không biểu hiện tính lịch sự trong giọng điệu và thái độ thì cũng không làm cho người khác cảm thấy được tôn trọng. Bên cạnh thái độ học tập của sinh viên thì phương pháp dạy của giáo viên cũng cần có sự thay đổi. Trong lớp học, giáo viên nên tạo ra một môi trường học tập thân thiện, sôi động tạo cảm giác hứng thú trong học tập cho sinh viên. Theo đó, khi dạy về kính ngữ, giáo viên có thể tùy chọn phân vai cho sinh viên tham gia vào các tình huống giao tiếp thường gặp trong hội thoại hàng ngày. Đó có thể là cách nói chuyện giữa các thành viên trong gia đình, giữa bạn bè, nhân viên với cấp trên và với công ty đối tác Qua những vai giao tiếp trên, đồng thời thông qua sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên sẽ so sánh các cách nói trong từng hoàn cảnh khác nhau. Do đó, khi giao tiếp trong thực tế thì sinh viên sẽ không bối rối, lúng túng và sử dụng nhầm lẫn các cách nói trong tiếng Nhật. Ngoài ra, giáo trình giảng dạy kính ngữ cần có phần giới thiệu về một số phương pháp biểu hiện kính ngữ ngoài những nội dung đã trình bày trong sách giáo khoa. Những phương pháp biểu hiện khác để tăng thêm sự tôn kính: Không nói hết câu: Ví dụ: - Myonichi wa chotto 89
90 (Ngày mai thì không tiện cho lắm: mang hàm ý từ chối) - Ima isogashikute (Bây giờ thì tôi bận không thể được) - Kore kino kattan desu kedo, sukoshi itandeirun desho ga (Cái này tôi mới mua hôm qua nhưng mà nó hơi bị hư một chút tức là chị có thể đổi lại cho tôi được không) Nói rào đón: Ví dụ: - Moshiwake arimasen ga, honjitsu wa mo heiten to narimashita. (Xin lỗi, hôm nay cửa hàng chúng tôi đóng cửa) - Osoreirimasu ga, moichido odenwa itadakenai desho ka. (Xin lỗi, tôi có thể được ngài điện thoại lại một lần nữa được không?) - Jitsu wa gosodan shitai koto ga aru no desu ga, ima yoroshi desho ka. (Thật sự tôi có chuyện muốn hỏi ý kiến ngài, bây giờ có được không?) Những biểu hiện uyển chuyển: Trong tiếng Nhật có khá nhiều hình thức biểu hiện uyển chuyển khác nhau để làm gia tăng sự tôn kính khi giao tiếp với mọi người. Sau đây là một vài hình thức biểu hiện uyển chuyển có thể bổ túc cho kiến thức về kính ngữ của người học. - Kore de yoroshi desho ka. (Cái này có được không ạ?) - Oisogashi ka to zonjimasu. (Tôi nghĩ chắc là ông bận rộn) Câu 5: Những nguyên nhân khiến sinh viên sử dụng kính ngữ chưa thành thạo, lưu loát là gì? a. Chưa hiểu văn hóa giao tiếp cũng như các trường hợp sử dụng kính ngữ trong những hoàn cảnh và đối tượng cụ thể nên khi giao tiếp vẫn còn lúng túng và sử dụng nhầm lẫn b. Rụt rè, nhút nhát, không tự tin khi giao tiếp vì sợ sử dụng sai ngoài ra còn vì tính cách ngại giao tiếp, sợ nói trước đám đông của người Việt Nam 90
91 c. Năng lực nghe hiểu còn hạn chế nên trong quá trình giao tiếp còn lúng túng, không hiểu rõ vấn đề d. Cả a và b Kết quả thu được: Câu trả lời a: 27 người, chiếm 17 %. Câu trả lời b: 16 người, chiếm 10 %. Câu trả lời c: 15 người, chiếm 9.4 %. Câu trả lời d: 102 người, chiếm 63.6 % Biểu đồ 3.4.2: Biểu đồ thể hiện nhữngnguyên nhân khó khăn trong việc sử dụng kính ngữ 17% 63.6% 10% 9.4% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d Nhận xét và đề xuất: Dựa trên kết quả được biểu thị trên biểu đồ hình tròn ta thấy: 17 % ý kiến cho rằng Việc sinh viên chưa sử dụng kính ngữ thành thạo, lưu loát là do chưa hiểu về văn hóa giao tiếp cũng như các trường hợp sử dụng kính ngữ trong những trường hợp cụ thể do đó thường gặp phải những lỗi sai (Câu trả lời a). Và 10 % số ý kiến cho rằng Do sinh viên còn rụt rè, nhút nhát, ngại giao tiếp, không tự tin khi giao tiếp vì sợ sử dụng sai, sợ nói trước đám đông (Câu trả lời b). Trong khi đó, chiếm 63.6 % tỷ lệ (Câu trả lời d )của biểu đồ là tổng hợp của hai ý kiến trên. 91
92 Qua đó cho thấy, ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kính ngữ của sinh viên như nội dung giáo trình, cách dạy cách học thì còn có yếu tố liên quan đến tâm lý của người học. Chính vì tâm lý ngại giao tiếp, sợ nói trước đám đông và không dám thể hiện ý kiến, quan điểm của người Việt Nam đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng hình thức xưng hô kính ngữ vào thực tế. Bên cạnh đó, có 9.4 % ý kiến nhận định là: Năng lực nghe hiểu tiếng Nhật còn hạn chế nên trong quá trình giao tiếp, sinh viên còn lúng túng, không hiểu rõ về nội dung đàm thoại cũng như đối tượng giao tiếp nên không tránh khỏi những trường hợp sử dụng sai và chưa thành thạo. Qua đó cho thấy, để có thể tự tin trong giao tiếp và khắc phục những khuyết điểm trên, mỗi sinh viên cần cố gắng tự thực hành luyện tập với giáo viên, bạn bè, tìm kiếm tài liệu tham khảo hoặc học thêm tại các trung tâm Nhật ngữ Ngoài ra, việc tham gia các câu lạc bộ tiếng Nhật cũng tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội giao lưu, tiếp xúc và học hỏi kinh ngiệm của bạn bè, tiền bối Câu 6: Những biện pháp hỗ trợ sinh viên học và thực hành cách sử dụng kính ngữ hiệu quả của trường bạn đang học là gì? a. Thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu văn hóa Việt - Nhật tại trường để sinh viên có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp với người Nhật đồng thời hiểu biết thêm về văn hóa của hai quốc gia b. Hỗ trợ sinh viên tham gia và lao động thực tế tại các công ty Nhật Bản trong các khu công nghiệp để sinh viên có cơ hội sử dụng kính ngữ cũng như hiểu biết thêm về văn hóa công ty c. Không tổ chức các hoạt động giao lưu học tập cũng như không hỗ trợ sinh viên lao động thực tế tại công ty d. Cả a và b Kết quả thu được: Câu trả lời a: 16 người, chiếm 10 %. Câu trả lời b: 19 người, chiếm 12 %. Câu trả lời c: 57 người, chiếm 35.6 %. 92
93 Câu trả lời d: 68 người, chiếm 42.4 %. Biểu đồ 3.4.3: Biểu đồ thể hiện ý kiến về biện pháp hỗ trợ sinh viên 10% 42.4% 12% 35.6% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c Câu trả lời d Nhận xét và đề xuất: Dựa vào số liệu được biểu hiện trên biểu đồ, ta thấy: một trong những biện pháp hỗ trợ sinh viên học và thực hành cách sử dụng kính ngữ tại khoa Đông phương, trường Đại học Lạc Hồng là nhà trường tạo điều kiện cho sinh viên tham gia lao động thực tế tại các công ty Nhật Bản ở một số khu công nghiệp trong địa bàn tỉnh Đồng Nai và các vùng lân cận. Tỷ lệ ý kiến cho nhận định này chiếm 12 % (câu trả lời b: Hỗ trợ sinh viên tham gia và lao động thực tế tại các công ty Nhật Bản trong các khu công nghiệp để sinh viên có cơ hội sử dụng kính ngữ cũng như hiểu biết thêm về văn hóa công ty). Bên cạnh đó, nhà trường còn tổ chức những buổi giao lưu văn hóa Việt - Nhật tại trường (chiếm 10 % - câu trả lời a: Thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu văn hóa Việt - Nhật tại trường để sinh viên có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp với người Nhật đồng thời hiểu biết thêm về văn hóa của hai quốc gia). Và 42.4 % là tỷ lệ tổng hợp của hai ý kiến trên. Qua ba ý kiến này cho thấy, trường Đại học Lạc Hồng luôn quan tâm đến tình hình dạy - học kính ngữ của sinh viên. Việc đưa sinh viên đi lao động thực tế cũng như tổ chức những buổi giao lưu văn hóa phần nào tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp 93
94 với người Nhật. Qua đó, sinh viên sẽ được học thêm những bài học về văn hóa giao tiếp truyền thống của người Nhật và người Việt trong đời sống thường ngày nói chung và trong môi trường công ty nói riêng. Từ đó, sinh viên sẽ có ý thức về cách sử dụng các hình thức xưng hô trong giao tiếp của người Việt và người Nhật nên phần nào sẽ tránh được những lỗi sai do sự khác biệt văn hóa tạo nên. Tuy nhiên, bên cạnh những ý kiến nhận định về những tác động tích cực từ phía nhà trường đối với việc học của sinh viên thì cũng có 35.6 % số ý kiến của sinh viên còn cho rằng: nhà trường vẫn chưa tổ chức các hoạt động giao lưu học tập cũng như không hỗ trợ sinh viên tham gia lao động thực tế tại công ty. Tỷ lệ ý kiến này chiếm hơn 1/3 tổng số ý kiến của sinh viên về câu hỏi khảo sát này. Qua đó cho thấy, bên cạnh những biện pháp hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập của nhà trường thì vẫn có một số hạn chế. Đó là việc chưa thông tin rộng rãi đến toàn thể sinh viên cũng như một số vấn đề khó khăn khi tổ chức cho sinh viên tham gia lao động thực tế tại các công ty. Đó là việc chưa sắp xếp được lịch trình tham gia lao động thực tế của sinh viên ngay trong giai đoạn học nội dung về kính ngữ (năm thứ ba, đến cuối năm thứ tư mới tổ chức lao động thực tế trong 04 hoặc 06 tháng). Do đó, sinh viên chưa có cơ hội được thực hành luyện tập bài học ngay trong thực tế nên vẫn còn nhiều khó khăn trong cách sử dụng. Chính vì vậy, từ phía nhà trường có thể linh động sắp xếp lịch học của sinh viên (năm thứ ba) nhằm tạo cơ hội cho họ có thể tham gia lao động thực tế tại các xí nghiệp, công ty Việt - Nhật để ứng dụng bài học vào thực tế. Câu 7: Theo bạn, tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học ngoại ngữ (tiếng Nhật)? (đặc biệt là cách nói kính ngữ) a. Không tìm được những đại từ xưng hô và cách nói kính ngữ tương đương trong tiếng Việt khi muốn dịch sang tiếng Nhật trong từng cách sử dụng cụ thể vì văn hóa giao tiếp và ý nghĩa từ vựng của hai quốc gia khác nhau b. Tiếng Việt không có những hình thức chia động từ và trợ từ kính ngữ khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc sử dụng động từ kính ngữ trong tiếng Nhật 94
95 c. Trong tiếng Việt khi xưng hô ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai có sự thay đổi linh hoạt về đại từ xưng hô (như tôi, em, con, cháu bác, cô, chú.), trong khi đó tiếng Nhật lại không có hình thức thay đổi này Kết quả thu được: Câu trả lời a: 42 người, chiếm 26.2 % Câu trả lời b: 65 người, chiếm 40.6 % Câu trả lời c: 53 người, chiếm 33.2 % Biểu đồ 3.4.4: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với việc học ngoại ngữ 33.2% 26.2% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c 40.6% Nhận xét và đề xuất: Đối với người nước ngoài khi học ngoại ngữ thì có thể nói trở ngại lớn nhất trong việc sử dụng lưu loát đó chính là sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ, được gọi chung là hiện tượng chuyển di tiêu cực. Điều này có nghĩa là việc sử dụng ngôn ngữ thiếu tính phù hợp, hoặc tư duy như tiếng mẹ đẻ để phát ngôn trong ngôn ngữ khác. Có nhiều trường hợp trong ngôn ngữ mẹ đẻ thì có thể sử dụng cách nói như thế này, song trong ngôn ngữ khác lại không được sử dụng như vậy. Bởi vì những đặc trưng ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ ít nhiều khác với những đặc trưng ngôn ngữ của tiếng nước ngoài. Đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ cùng các hình thức xưng hô trong tiếng Việt. Đặc điểm khác biệt cơ bản là tiếng Việt thuộc hệ ngôn ngữ 95
96 Latinh còn tiếng Nhật gồm những bộ chữ viết riêng. Đó là bộ chữ Hiragana (thuần Nhật), bộ chữ Katakana (sử dụng trong những trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài) và bộ chữ Kanji (Hán tự - chữ tượng hình). Ngoài ra cấu trúc ngữ pháp cũng như cách dùng từ giữa tiếng Nhật và tiếng Việt cũng có những điểm khác biệt như đã trình bày trong chương I. Ảnh hưởng này được thể hiện trong biểu đồ hình tròn ở trên. Đó là 40.6 % (câu trả lời b) tỷ lệ ý kiến cho rằng vì Tiếng Việt không có những hình thức chia động từ và trợ từ kính ngữ nên sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc chia các hình thức động từ kính ngữ trong tiếng Nhật. Và 33.2 % (câu trả lời c) số ý kiến cho rằng: Khi xưng hô ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai trong tiếng Việt thì có sự thay đổi linh hoạt về các đại từ xưng hô như tôi, em, con, cháu bác, cô, chú, ông, bà Tuy nhiên, trong tiếng Nhật lại không có hình thức thay đổi cách xưng hô như tiếng Việt. Tùy theo từng tình huống và đối tượng cụ thể mà trong tiếng Nhật có cách xưng hô khác nhau. Chẳng hạn, khi xưng hô ở ngôi thứ nhất thì có đại từ xưng hô là watashi tôi, khi gọi đối tượng giao tiếp thì gọi bằng cách lấy họ + hậu tố san / sama (ví dụ: Tanaka san anh Tanaka, Suzuki sama ngài Suzuki ). Hơn thế nữa, trong tiếng Nhật không có hình thức sử dụng phổ biến các từ thể hiện mối quan hệ thân tộc trong xưng hô như trong tiếng Việt. Do đó, 26.2 % số ý kiến cho rằng: Không tìm được các đại từ xưng hô và cách nói kính ngữ tương đương trong tiếng Việt khi muốn dịch sang tiếng Nhật (Câu trả lời a). Nguyên nhân là vì ý nghĩa từ vựng cũng như văn hóa giao tiếp của hai quốc gia có những nét khác nhau cơ bản. Do đó, khi học ngoại ngữ, người học cần hiểu biết về những đặc trưng ngôn ngữ cũng như văn hóa của ngôn ngữ đó so với tiếng mẹ đẻ. Câu 8: Văn hóa giao tiếp và thói quen trong xưng hô có ảnh hưởng gì đối với việc học và sử dụng kính ngữ nói riêng và việc học ngoại ngữ nói chung? a. Có ảnh hưởng tích cực vì trong văn hóa có sự tương đồng nên dễ nhận biết và dễ áp dụng đồng thời thói quen trong xưng hô cũng giúp người sử dụng tự tin khi giao tiếp 96
97 b. Có ảnh hưởng tiêu cực vì trong văn hóa có sự khác biệt nên dễ tạo ra những cú sốc văn hóa và những sự hiểu lầm văn hóa. Mặt khác thói quen trong xưng hô của từng ngôn ngữ vì có sự khác biệt nên khiến người học khó xác định đúng các đại từ xưng hô trong các ngữ cảnh cụ thể. Kết quả thu được: Câu trả lời a: 73 người, chiếm 45 %. Câu trả lời b: 87 người, chiếm 55 %. Biểu đồ 3.4.5: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp và thói quen xưng hô đối với việc học kính ngữ 55% 45% Câu trả lời a Câu trả lời b Nhận xét và đề xuất: Như trên đã trình bày, văn hóa giao tiếp có ảnh hưởng không nhỏ đến việc học - sử dụng kính ngữ nói riêng và việc học ngoại ngữ nói chung. Bên cạnh đó, thói quen trong xưng hô cũng là yếu tố tác động đến cách sử dụng từ ngữ trong giao tiếp của người học. Theo kết quả thu được và tỷ lệ trên biểu đồ cho thấy: 55 % ý kiến (Câu trả lời b) cho rằng Hai yếu tố này có ảnh hưởng tiêu cực vì trong văn hóa có sự khác biệt dẫn đến sự hiểu lầm và tạo ra những cú sốc văn hóa. Mặt khác thói quen trong xưng hô của từng ngôn ngữ đều có sự khác biệt nên khiến cho người học cảm thấy lúng túng trong việc lựa chọn ngôn từ. Và 45 % còn lại (câu trả lời a) của biểu 97
98 đồ biểu hiện sự ảnh hưởng tích cực của hai yếu tố này. Bởi vì trong văn hóa có sự tương đồng nên dễ nhận biết và dễ áp dụng và thói quen trong xưng hô giúp người học tự tin khi giao tiếp. Cả hai ý kiến mức độ tỷ lệ là gần bằng nhau (chênh lệch 10 %) cho thấy rằng ảnh hưởng của văn hóa và thói quen trong giao tiếp có những ảnh hưởng tích cực đồng thời cũng có những ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, người học nên trang bị những kiến thức về văn hóa và chủ động tự điều chỉnh hình thức xưng hô trong đời sống hàng ngày để tránh những sự hiểu lầm văn hóa và sử dụng sai các hình thức ngôn từ xưng hô. Câu 9: Bạn nghĩ như thế nào về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa? a. Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ là một trong những phương tiện thể hiện, phản ánh văn hóa. Văn hóa là chủ thể tác động đến quá trình tiếp thu ngôn ngữ b. Văn hóa và ngôn ngữ tồn tại độc lập, song song với nhau, không có mối quan hệ tác động qua lại với nhau c. Chỉ có văn hóa mới tác động, ảnh hưởng đến ngôn ngữ còn ngôn ngữ thì không ảnh hưởng đến văn hóa Kết quả thu được: Câu trả lời a: 147 người, chiếm 91.8 % Câu trả lời b: 8 người, chiếm 5 % Câu trả lời c: 5 người, chiếm 3.2 % 98
99 Biểu đồ 3.4.6: Biểu đồ thể hiện ý kiến về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 5.0% 3.2% Câu trả lời a Câu trả lời b Câu trả lời c 91.8% Nhận xét và đề xuất: Đối với người nước ngoài khi học ngoại ngữ thì không chỉ chú trọng đến phần tiếng (tức là ngôn ngữ) mà còn phải quan tâm đến yếu tố văn hóa được thể hiện thông qua ngôn ngữ ấy. Ngay cả những người nói tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) thì việc chú ý đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là điều cần thiết. Vì qua kết quả khảo sát cho thấy, có 91.8 % ý kiến (câu trả lời a) cho rằng: Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, ngôn ngữ là một trong những phương tiện thể hiện văn hóa, ngược lại văn hóa là chủ thể tác động đến quá trình tiếp thu ngôn ngữ. Qua câu trả lời gần như chiếm tuyệt đối ở trên, cho thấy ý thức của sinh viên trong việc hiểu biết mối quan hệ này có xu hướng tích cực. Khi nhận thức của sinh viên về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đạt được kết quả như biểu đồ đã thể hiện chứng tỏ rằng sinh viên ngày càng quan tâm đến yếu tố văn hóa giao tiếp khi học ngoại ngữ. Tuy nhiên vẫn còn 5 % (câu trả lời b) cho rằng: Văn hóa và ngôn ngữ tồn tại độc lập, song song với nhau, không có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Đồng thời có 3.2 % ý kiến (câu trả lời b) cho rằng: Chỉ có văn hóa mới tác động, ảnh hưởng đến ngôn ngữ còn ngôn ngữ thì không ảnh hưởng 99
100 đến văn hóa. Hai cách hiểu như trên là chưa chính xác, còn mang tính phiến diện, một chiều. Vì nếu chỉ có ngôn ngữ hoặc văn hóa tác động thì sẽ không tạo ra ý nghĩa về mặt ngôn từ và cũng không thể hiện được những đặc trưng văn hóa của quốc gia đó. Do đó, khi học ngoại ngữ người học cần chú ý đến yếu tố tác động này để có thể học ngoại ngữ cũng như hiểu được tiếng mẹ đẻ tốt hơn. Câu 10: Sự tương đồng về mặt ý nghĩa trong cách nói kính ngữ có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học và sử dụng kính ngữ? a. Có ảnh hưởng tích cực vì giúp người học nhận ra những điểm giống nhau nên có cách sử dụng đúng b. Có ảnh hưởng tiêu cực vì chính những điểm giống nhau đã làm cho người học ngộ nhận và không xác định được những điểm khác nhau Kết quả thu được: Câu trả lời a: 79 người, chiếm 50.7 %. Câu trả lời b: 81 người, chiếm 49.3 %. Biểu đồ 3.4.7: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của sự tương đồng về mặt ý nghĩa trong kính ngữ 79.3% 50.7% Câu trả lời a Câu trả lời b 100
101 Nhận xét và đề xuất: Theo kết quả được biểu hiện trên biểu đồ thì 50.7 % số ý kiến (câu trả lời a) cho rằng: Sự tương đồng về mặt ý nghĩa trong cách nói kính ngữ có ảnh hưởng tích cực vì có thể giúp người học nhận ra những điểm giống nhau do đó có cách sử dụng đúng. Vì trong văn hóa giao tiếp của hai quốc gia có một số điểm tương đồng về mặt hình thức xưng hô nên về mặt ý nghĩa trong cách nói kính ngữ cũng có những điểm tương đồng. Đó là việc sử dụng những hình thức xưng hô tôn kính với đối tượng giao tiếp là những người cấp trên, những người không cùng công ty, không thuộc những thành viên trong gia đình Ngoài ra, trong trường hợp muốn thể hiện quan điểm hay ý kiến của bản thân thì phải lựa chọn hình thức xưng hô tế nhị, khéo léo, khiêm nhường. Tuy nhiên, trong biểu đồ trên cũng cho thấy có 49.3 % ý kiến (câu trả lời b) cho rằng: Chính sự tương đồng về mặt ý nghĩa này đã khiến người học ngộ nhận trong cách sử dụng và không xác định được những điểm khác nhau. Khi so sánh ý nghĩa giữa các hình thức ngôn ngữ thì việc hiểu và nhận thức đúng những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng sẽ giúp cho người học thuận lợi hơn trong giao tiếp Biểu đồ 3.4.8: Biểu đồ tổng hợp ý kiến của sinh viên về kính ngữ trong tiếng Nhật Đơn vị: % Câu 1 Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu 5 Câu 6 Câu 7 Câu 8 Câu 9 Câu 10 Đáp án a Đáp án b Đáp án c Đáp án d 101
102 Kết quả của bảng khảo sát ý kiến sinh viên về cách sử dụng các hình thức kính ngữ như trên đã trình bày cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy và học kính ngữ. Đó là nội dung giáo trình, cách dạy của giáo viên và phương pháp học của sinh viên là những yếu tố đóng vai trò quan trọng. Bên cạnh đó còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng như sự khác biệt về loại hình văn hóa giao tiếp, đặc trưng ngôn ngữ và thói quen xưng hô của người học. Chính những yếu tố này đã phần nào tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình dạy và học các hình thức kính ngữ. Do đó, trong quá trình học và thực hành kính ngữ, người học cần tham khảo nhiều giáo trình để có thêm kiến thức về những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp như đặc trưng ngôn ngữ hay tính cách chung của người học Thông qua bảng khảo sát này cho thấy để sử dụng thành thạo một loại hình ngôn ngữ cần phải đạt được nhiều kỹ năng quan trọng. Đó là vì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền tải các truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, để duy trì và phát triển mối quan hệ con người thì cần thiết phải sử dụng những hình thức xưng hô được gọi chung là hình thức kính ngữ với sự thay đổi linh hoạt cách sử dụng lời nói của người nói khi muốn truyền đạt cho người nghe. Khi giao tiếp với người nước ngoài, nếu người nói không sử dụng đúng cách sẽ làm cho đối phương có thể hiểu nhầm, hoặc tạo ấn tượng xấu, đôi khi còn bị coi là vô lễ, mất lịch sự. Ngược lại, cũng có khi vì người học lấy tiêu chuẩn giá trị văn hóa của nước họ làm chuẩn mực cho nên dẫn đến sự hiểu nhầm cho đối phương. Tất cả những yếu tố được phân tích ở trên là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra các cản trở trong giao tiếp giữa các đối tượng khác nhau về văn hóa và ngôn ngữ. Như đã trình bày trong chương một và chương hai của bài luận văn thì kính ngữ được hình thành trong xã hội địa vị phức tạp và do đó có cách sử dụng nhấn mạnh địa vị xã hội ấy. Thông qua cách sử dụng kính ngữ mà hình thành nên mối quan hệ trên dưới và các hình thức sử dụng từ ngữ. Chính vì thế, để tạo ra những mối quan hội con người tốt thì một trong những yếu tố cần quan tâm, lưu ý là việc dạy - học 102
103 kính ngữ. Bởi vì khi giao tiếp, đối tượng giao tiếp sẽ căn cứ vào cách sử dụng từ ngữ để đánh giá người nói có thật sự kính trọng người nghe, có những biểu hiện khiêm tốn hay chỉ là vẻ bề ngoài. 103
104 PHẦN KẾT LUẬN Văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngữ là kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc, thông qua ngôn ngữ văn hóa được gìn giữ và lưu truyền. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ luôn luôn đi song song với sự biến đổi và phát triển văn hóa. Thông thường thì trình độ sử dụng ngoại ngữ được quyết định bằng hai yếu tố: Sự am hiểu về ngôn ngữ và sự hiểu biết về kiến thức văn hóa trong bối cảnh của ngôn ngữ đó. Văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ không chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu các hiện tượng văn hoá vật thể như đồ ăn - thức uống, thói quen, phong tục tập quán, lối sống mà còn quan tâm đến khía cạnh phi vật thể. Cụ thể là hệ thống những giá trị và chuẩn mực, mà hiện thân của chúng có thể tìm thấy trong lời nói của từng cá thể. Qua phân tích trên đây, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng, dạy văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc dạy và học tiếng nước ngoài. Do có những tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa nên người thầy có trách nhiệm giúp cho người học nhận biết những lỗi dễ mắc do những khác biệt về văn hóa gây nên trong khi giao tiếp với người nước ngoài, hay trong khi làm công việc phiên và biên dịch. Người thầy còn phải giúp cho người học ý thức được rằng những khuôn mẫu của giọng nói và ngữ điệu cũng có ý nghĩa và mỗi thứ tiếng có những khuôn mẫu riêng. Ngoài ra, mỗi nền văn hóa chấp nhận những kiểu loại ngôn ngữ cử chỉ khác nhau; mỗi một hệ thống ngôn ngữ có đặc trưng cú pháp và từ vựng khác nhau. Hơn thế nữa mối quan hệ giữa người nói và người nghe cũng không giống nhau. Tóm lại, dạy văn hóa trong quá trình dạy - học ngoại ngữ là bắt buộc. Vấn đề cần trao đổi là dạy gì và dạy như thế nào để người học tiếp thu được những đặc trưng văn hóa, vật chất và phi vật chất, một cách thoải mái và tích cực nhất. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả trong tương tác liên văn hóa. 104
105 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt [1] Đỗ Hữu Châu, GS.TS, Đại cương ngôn ngữ học, NXB Giáo Dục, [2] Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, [3] Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng, Dân tộc học đại cương, NXB Giáo Dục, [4] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo Dục, [5] Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Quang Phú, Từ điển phép lịch sự và giao tiếp, NXB Văn hóa thông tin, [6] Xuân Lãm, Thanh Nghi, Minh Tân, Từ điển tiếng Việt, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, [7] Trần Ngọc Thêm, GS.TSKH, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo Dục, [8] Trần Ngọc Thêm, GS.TSKH, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, [9] Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt Thực Hành, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, [10] Nguyễn Thị Hồng Xoan, ThS, Trần Thị Kim Xuyến, TS, Nhập Môn Xã Hội Học, NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, [11] Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển giải thích th ật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo Dục, Tiếng Nhật [12] 平林周祐, 浜由美子, 敬語, 荒竹出版, [13] 蒲谷宏, 川口義一, 坂本恵み, 敬語表現, 大修館書店,
106 [14] 文化庁, 待遇表現, 大蔵省印刷局, 1998 [15] 国立国語研究所, 敬語教育の基本問題 ( 上 ), 大蔵省印刷局, 1998 [16] 金子広幸, 日本語敬語, トレーニング, アルク, [17] 小川誉子美, 前田直子, 敬語を中心とした対人関係の表現, スリーエーネットワーク, [18] 四田龍雄編, 言語学を学ぶ人のために, 世界思想社, [19] 玉村文郎, 日本語学を学ぶ人のために, 世界思想社, Tài liệu Từ Internet [20] cua%20lich%20su%20chuan%20muc%20trong%20xung%20ho%20(ts.%20vu%2 0Tien%20Dung).pdf (Các biểu hiện của lịch sự chuẩn mực trong xưng hô (TS. Vũ Tiến Dũng), ngày 10/04/2009) [21] (Tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ, 10/04/2009) [22] (Quy tắc và phân loại kính ngữ, 11/04/2009) [23] ( 尊敬語使い方 14/04/09) [24] ( 謙譲語と尊敬語の使い方が分からない 14/04/09) [25] ( 敬語って 難しい 14/04/09) [26] chie_detail ( 謙譲語の定義 14/04/09) 106
107 [27] ( いたすはするの謙譲語 ) [28] ( 尊敬語と謙譲語 24/04/2009) 107
108 PHỤ LỤC BẢNG THĂM DÒ Ý KIẾN VỀ KÍNH NGỮ TRONG TIẾNG NHẬT 1 Theo bạn, giáo trình giảng dạy về kính ngữ hiện nay như thế nào? a. Giáo trình phong phú với nhiều trường hợp sử dụng kính ngữ trong thực tế và nhiều mẫu đối thoại luyện tập b. Giáo trình còn hạn chế, nội dung sơ sài, mơ hồ khiến người học vẫn chưa hiểu rõ cách sử dụng kính ngữ c. Có phần phụ lục về văn hóa ứng xử trong giao tiếp, do đó giúp người học dễ hiểu đồng thời phân biệt được từng trường hợp sử dụng d. Không có phần phụ lục về văn hóa ứng xử, đặc trưng văn hóa trong giao tiếp 2 Theo bạn, cách giảng dạy của giáo viên về kính ngữ như thế nào? a. Hay, dễ hiểu, sinh động, giáo viên đã đưa ra một số tình huống giao tiếp trong các ngữ cảnh khác nhau để sinh viên luyện tập b. Giáo viên còn dạy một chiều, chưa lấy sinh viên làm trung tâm, chưa tạo ra những tình huống giao tiếp và các ngữ cảnh luyện tập c. Trong giờ dạy, giáo viên chỉ dạy những nội dung trong sách giáo khoa, chưa bổ sung những bài dạy thêm về văn hóa xưng hô, văn hóa giao tiếp của hai quốc gia, do đó sinh viên chưa nhận ra điểm tương đồng và khác biệt trong cách nói kính ngữ của hai ngôn ngữ. d. Cả b và c 108
109 3 Theo bạn, cách học kính ngữ của sinh viên hiện nay như thế nào? a. Thụ động, chỉ dựa vào sách giáo khoa, không chủ động tìm tài liệu tham khảo cũng như thực hành luyện tập b. Chủ động tự luyện tập và đàm thoại với bạn bè, thầy cô, học thêm ở trung tâm tiếng Nhật, tìm thông tin tài liệu trên internet, tra cứu sách vở về kính ngữ và văn hóa giao tiếp của Việt Nam và Nhật Bản c. Giáo viên dạy như thế nào thì học như vậy, không bổ sung thêm kiến thức bên ngoài d. Cả a và c 4 Những nguyên nhân khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc học kính ngữ là gì? a. Giáo trình quá ít, tài liệu tham khảo không có, nội dung trình bày trong giáo trình không đầy đủ, mơ hồ, không có nhiều ví dụ luyện tập, không có phụ lục về văn hóa xưng hô trong giao tiếp b. Cách dạy của giáo viên chưa tạo ra sự hứng thú trong học tập đồng thời tạo cảm giác nhàm chán cho sinh viên c. Ý thức học tập của sinh viên không tốt, không mạnh dạn luyện tập, không chủ động tìm kiếm tài liệu tham khảo d. Cả a, b và c 5 Những khó khăn của sinh viên khi sử dụng kính ngữ chưa thành thạo, lưu loát là gì? a. Chưa hiểu văn hóa giao tiếp cũng như các trường hợp sử dụng kính ngữ trong những hoàn cảnh và đối tượng cụ thể nên khi giao tiếp vẫn còn lúng túng và sử dụng nhầm lẫn b. Rụt rè, nhút nhát, không tự tin khi giao tiếp vì sợ sử dụng sai ngoài ra còn vì tính cách ngại giao tiếp, sợ nói trước đám đông của người Việt Nam 109
110 c. Năng lực nghe hiểu còn hạn chế nên trong quá trình giao tiếp còn lúng túng, không hiểu rõ vấn đề d. Cả a và b 6 Những biện pháp hỗ trợ sinh viên học và thực hành cách sử dụng kính ngữ hiệu quả của trường bạn đang học là gì? a. Thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu văn hóa Việt - Nhật tại trường để sinh viên có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp với người Nhật đồng thời hiểu biết thêm về văn hóa của hai quốc gia b. Hỗ trợ sinh viên tham gia và lao động thực tế tại các công ty Nhật Bản trong các khu công nghiệp để sinh viên có cơ hội sử dụng kính ngữ cũng như hiểu biết thêm về văn hóa công ty c. Không tổ chức các hoạt động giao lưu học tập cũng như không hỗ trợ sinh viên lao động thực tế tại công ty d. Cả a và b 7 Theo bạn, tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học ngoại ngữ (tiếng Nhật)? (đặc biệt là cách nói kính ngữ) a. Không tìm được những đại từ xưng hô và cách nói kính ngữ tương đương trong tiếng Việt khi muốn dịch sang tiếng Nhật trong từng cách sử dụng cụ thể vì văn hóa giao tiếp và ý nghĩa từ vựng của hai quốc gia khác nhau b. Tiếng Việt không có những hình thức chia động từ và trợ từ kính ngữ khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc sử dụng động từ kính ngữ trong tiếng Nhật c. Trong tiếng Việt khi xưng hô ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai có sự thay đổi linh hoạt về đại từ xưng hô (như tôi, em, con, cháu bác, cô, chú.), trong khi đó tiếng Nhật lại không có hình thức thay đổi này 110
111 8 Văn hóa giao tiếp và thói quen trong xưng hô có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học và sử dụng kính ngữ nói riêng và việc học ngoại ngữ nói chung? a. Có ảnh hưởng tích cực vì trong văn hóa có sự tương đồng nên dễ nhận biết và dễ áp dụng đồng thời thói quen trong xưng hô cũng giúp người sử dụng tự tin khi giao tiếp b. Có ảnh hưởng tiêu cực vì trong văn hóa có sự khác biệt nên dễ tạo ra những cú sốc văn hóa và những sự hiểu lầm văn hóa. Mặt khác thói quen trong xưng hô của từng ngôn ngữ vì có sự khác biệt nên khiến người học khó xác định đúng các đại từ xưng hô trong các ngữ cảnh cụ thể 9 Bạn nghĩ như thế nào về mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa? a. Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ là một trong những phương tiện thể hiện, phản ánh văn hóa. Văn hóa là chủ thể tác động đến quá trình tiếp thu ngôn ngữ b. Văn hóa và ngôn ngữ tồn tại độc lập, song song với nhau, không có mối quan hệ tác động qua lại với nhau c. Chỉ có văn hóa mới tác động, ảnh hưởng đến ngôn ngữ còn ngôn ngữ thì không ảnh hưởng đến văn hóa Sự tương đồng về mặt ý nghĩa trong cách nói kính ngữ có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học và sử dụng kính ngữ? a. Có ảnh hưởng tích cực vì giúp người học nhận ra những điểm giống nhau nên có cách sử dụng đúng b. Có ảnh hưởng tiêu cực vì chính những điểm giống nhau đã làm cho người học ngộ nhận và không xác định được những điểm khác nhau 111
Microsoft Word - DAI THUA 100 PHAP _hoan chinh_.doc
Sáng tác: Bồ tát Thiên Thân Hán dịch: Pháp sư: Huyền Tráng Soạn thuật: Cư sĩ: Giản Kim Võ Việt dịch: Cư sĩ: Lê Hồng Sơn LUẬN ĐẠI THỪA 100 PHÁP Phật Lịch: 2557 - DL.2013 Luận Đại Thừa 100 Pháp 1 Việt dịch:
語彙リスト_ベトナム語(10Q).indd
C A S E 0 1 IT doanh nghiệp IT làm việc tại - làm việc tại - khá vất vả những việc như thế này cấp trên, sếp bị - cho gọi dữ liệu đơn hàng xử lý - trả lời trở về chỗ như thường lệ đi đi lại lại, đi tới
平成25年度全国学力・学習状況調査:保護者に対する調査(小学校調査票)ベトナム語版
MEXT Bộ giáo dục và khoa học Khảo sát tình hình học tập - học lực toàn quốc năm 2013 (Bảng khảo sát chi tiết) Bảng khảo sát dành cho phụ huynh Khảo sát này là một phần trong kế hoạch Khảo sát tình hình
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ĐÀO DUY TÙNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: LUẬ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH --------------- Đào Duy Tùng TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC TP. HỒ CHÍ MINH 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Microsoft Word - NhanGianDuKi-ISO-A5.doc
THÁNH HIỀN ĐƯỜNG NHÂN GIAN DU KÍ 人間遊記 Dịch Giả Đào Mộng Nam PUBLISHED BY VO VI MULTIMEDIA COMMUNICATION Cover Designed by AT Graphics Copyright 1984, 2006 by VO VI MULTIMEDIA COMMUNICATION website: http://www.vovi.org
2
www.pwc.com/vn Sổ tay thuế Việt Nam 2017 2 Mục Lục Hệ Thống Thuế 6 Tổng quan Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp ( TNDN ) Thuế suất Ưu đãi thuế TNDN Xác định thu nhập chịu thuế TNDN Các khoản chi không được trừ
PTB TV 2018 ver 8
Sổ tay thuế Việt Nam 2018 www.pwc.com/vn 2 Mục Lục Hệ Thống Thuế Tổng quan Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp ( TNDN ) Thuế suất Ưu đãi thuế TNDN Xác định thu nhập chịu thuế TNDN Các khoản chi không được trừ và
bộ khẩu tức là cái miệng. Cái miệng con người phát ngôn ra lời nói nhanh như mũi tên và mũi tên ấy sẽ mang đến cho chúng ta cả điều lợi lẫn điều hại;
Mùa Cây Trái Thích Như Điển Đức Phật thường dạy rằng: nhân nào quả đó ; gieo gió gặt bão ; nhân thiện quả thiện, nhân ác quả ác ; hoặc ông bà mình cũng có câu tục ngữ: ăn cây nào rào cây ấy ; ăn quả nhớ
Contents
3.7 Quy hoạch Định hướng TOD ở cụm đô thị phía nam 3.7.1 Hướng tiếp cận 1) Đặc điểm của cụm (a) Tổng quan 3.249 Cụm đô thị phía nam gồm phần đông nam của quận Đống Đa, phía tây quận Hai Bà Trưng, phía
[PDF] SỔ TAY HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN QUỐC TẾ
SỔ TAY HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN QUỐC TẾ mục lục Những chú ý khi đăng ký Hướng dẫn các nội dung quan trọng 3 Tổng quan về sản phẩm Hướng dẫn sử dụng ATM 5 7 Phí dịch vụ và Các thắc mắc Ứng
労災保険外国人向けパンフ第二編_ベトナム語
[ Cho người nước ngoài làm việc tại Nhật Bản] ベトナム語版 Sách hướng dẫn để yêu cầu bảo hiểm tai nạn lao động Khái quắt về trợ cấp bảo hiểm tai nạn lao động Nội dung của trợ cấp bảo hiểm các loại
日本留学試験の手引き_ベトナム語版
Kỳ thi Du học Nhật Bản (EJU) và Thủ tục ~ Cho phép Nhập học trước khi đến Nhật bằng cách sử dụng EJU ~ Mục lục Lời nói đầu...03 Phương pháp tuyển chọn lưu học sinh...04 Kỳ thi Du học Nhật Bản(EJU)...05
Mục lục Lời mở đầu 1 1 Ba loại tai nạn lao động thường xảy ra trong khi hàn 2 2 Những công việc nhiều tai nạn gây tử vong 2 3 Tai họa và các nghi vấn
Dành cho thực tập sinh kỹ năng Bước đầu tiên để thực tập sinh kỹ năng thực hiện công việc hàn an toàn Mục lục Lời mở đầu 1 1 Ba loại tai nạn lao động thường xảy ra trong khi hàn 2 2 Những công việc nhiều
KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG HẬU TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU-MA-LA-THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN Việt dịch và chú giải NGUYỄN MINH H
KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG HẬU TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU-MA-LA-THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN Việt dịch và chú giải NGUYỄN MINH HIỂN hiệu đính Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty
W06_viet01
Tiếng Việt 10 điểm cần thiết cho sự an toàn và vui tươi trong học tập tại trường cấp 1 đối với học sinh và phụ huynh người ngoại quốc. Hướng đến việc nhập học trường cấp 1 Hãy xác định lịch trình cho đến
HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 CÁM ƠN Ý TƯỞNG VÀ BÀI VỞ CỦA ANH CHỊ CỰU SINH VIÊN ĐHSP HUẾ 2 KHÓA LƯƠNG VĂN CAN VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG. CÁM ƠN TRANG BLOG ANH TRẦN
HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 CÁM ƠN Ý TƯỞNG VÀ BÀI VỞ CỦA ANH CHỊ CỰU SINH VIÊN ĐHSP HUẾ 2 KHÓA LƯƠNG VĂN CAN VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG. CÁM ƠN TRANG BLOG ANH TRẦN DƯ SINH CHỦ TRÌ LÀ CẦU NỐI THÔNG
労災保険外国人むけパンフ第一編_ベトナム語i
[Dành cho người nước ngoài làm việc tại Nhật Bản] ベトナム語版 Sách hướng dẫn để yêu cầu bảo hiểm tai nạn lao động Về đối tượng có thể yêu cầu(làm đơn xin) nhận trợ cấp bảo hiểm Bảo hiểm tai nạn lao
意識_ベトナム.indd
Phiê u điê u tra kha o sa t nhâ n thư c cu a cư dân ngươ i nươ c ngoa i ta i tha nh phô Sakai Tha nh phô Sakai hiê n đang thu c đâ y viê c xây dư ng tha nh phô trơ tha nh mô t nơi dê sinh sô ng, an toa
CUỘC CÁCH MẠNG MỘT-CỌNG-RƠM MASANOBU FUKUOKA (Bản sách điện tử lần thứ nhất) Biên dịch: XanhShop Lời giới thiệu và hiệu đính: Hoàng Hải Vân Lời giới t
CUỘC CÁCH MẠNG MỘT-CỌNG-RƠM MASANOBU FUKUOKA (Bản sách điện tử lần thứ nhất) Biên dịch: XanhShop Lời giới thiệu và hiệu đính: Hoàng Hải Vân Lời giới thiệu cho lần tái bản thứ nhất: Dịch giả Phương Huyên
1.Khóa tuyển sinh Số học viên Khóa tuyển sinh Thời gian nhập học Số học viên Khoa tiếng nhật Khóa học 1 năm Khoá học 2 năm Tháng 4 40 người (20 người
Khoa tiếng Nhật H I R O S H I M A F U K U S H I S E N M O N G A K K O Trường Điều Dưỡng Phúc Lợi Xã Hội Hiroshima 1.Khóa tuyển sinh Số học viên Khóa tuyển sinh Thời gian nhập học Số học viên Khoa tiếng
THÔNG SỐ KỸ THUẬT BẢN VẼ LẮP ĐẶT Sản phẩm Tối thiểu Áp lực sử dụng (động) Tối đa (tĩnh) Nhiệt độ sử dụng Chất lượng nước sử dụng Vùng thường Nhiệt độ
03G40SR 2015.10 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LẮP ĐẶT SEN TẮM ĐIỀU NHIỆT NÓNG LẠNH Sê ri TMGG40 (TMGG40E/ TMGG40E3/ TMGG40LE/ TMGG40LLE/ TMGG40LEW/ TMGG40LJ/ TMGG40SE/ TMGG40SECR/ TMGG40SEW/ TMGG40SJ/ TMGG40QE/ TMGG40QJ/
Mùa Khô
tinhyeutraiviet.com - Tuyển tập 2011 2 Ngày ấy - Bây giờ Lời bạt Như một món quà nhỏ trao tặng đến người bạn thân, Tuyển tập chọn lọc từ cuộc thi viết truyện ngắn lần thứ năm 2011 của Diễn đàn tinhyeutraiviet.com
Tài chính Quan hệ Cộng đồng Quản trị căn bản Pháp lý Các loại rủi ro Dự án Tình hình Tài chính Mục tiêu công ty Giá cả Môi trường - Tử vong - Thương t
Giảng viên: Trần Quang Trung Mục tiêu môn học Kết thúc chương trình này người học có thể: Lưu ý nhiều hơn các vấn đề có yếu tố rủi ro Nhận biết và phân loại các rủi ro của đơn vị Áp dụng một số kỹ thuật
La-hán Ba Tiêu Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài tr
SỰ TÍCH THẬP BÁT LA HÁN LỜI ĐẦU SÁCH Thập Bát La Hán tượng trưng cho tín ngưỡng đặc thù dân gian. Cuộc đời của các Ngài siêu nhiên kỳ bí nhưng rất mực gần gũi chúng sanh. Tranh tượng Bồ-tát trình bày một
Khái quát cấu trúc Hệ thống Kiểm soát Tổng tải lượng Ô nhiễm (TPLCS) Chương 1 Tính cần thiết của TPLCS 1.1 Tổng quan về TPLCS Ô nhiễm nước xảy ra khi
Hướng dẫn áp dụng Hệ thống Kiểm soát Tổng tải lượng Ô nhiễm (TPLCS) Tháng 4/2011 Văn phòng Quản lý Môi trường các Vùng ven biển Khép kín Bộ phận Môi trường Nước Cục Quản lý Môi trường Bộ Môi trường Nhật
Quả bưởi có nhiều múi, mỗi trái được trung bình khoảng 12 múi. Phân tích 100 gam dịch quả bưởi chín, thu được 89 gam nước, 9 gam glucid, 0,6 gam proti
Cuối Năm Ăn Bưởi Phanxipăng Đầu năm ăn quả thanh yên, Cuối năm ăn bưởi cho nên... đèo bòng. Ca dao Việt Đông chí. Từ thời điểm này, trái cây ở nhiều miệt vườn tới tấp dồn về phố chợ, tràn xuống cả lòng
Student Guide to Japan (Vietnamese Version)
2017-2018 HƯỚNG DẪN DU HỌC NHẬT BẢN Bản tiếng Việt SỨC HẤP DẪN CỦA DU HỌC NHẬT BẢN Chương trình đào tạo chất lượng cao, hấp dẫn Những năm gần đây, có rất nhiều nhà khoa học Nhật Bản nhận được giải thưởng
Heike monogatari là một truyện kể xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII, kể lại cuộc xung đột giữa hai dòng họ có thế lực là họ Taira và họ Minamoto. Xét v
GENJI MONOGATARI CỦA MURASAKI SHIKIBU: NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TÍNH LỊCH SỬ VỀ MẶT THỂ LOẠI Nguyễn Thị Lam Anh* * ThS., Bộ môn Nhật Bản học Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG TPHCM 1. Khái niệm monogatari và tác phẩm
ĐVT: tấn STT Khối lượng Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2008 CTR CTR Công nghiệp 1.991, , , , ,747
7. ダナン市の資料 CÂU HỎI GỬI ĐẾN THÀNH PHỐ VÀ CÁC TỈNH I. Các nội dung liên quan đến Sở Y tế: Một số thông tin liên quan xử lý chất thải y tế của thành phố Đà Nẵng Câu hỏi 1: Số bệnh viện Hiện nay trên địa bàn
Bia 1_VHPG_268_17.indd
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1-3 - 2017 Phật lịch 2560 Số 268 Đa dạng tôn giáo Tr. 12 mang theo Tr. 36 Tr. 14 CÔNG TY TNHH TM-XD AN PHÚ THÀNH 281/25/11 Lê Văn Sĩ, phường 1, quận Tân Bình, TP.HCM ĐT: (08)
có 5 hay 7 âm tiết xen kẽ nhau, có thể chia làm hai phần: Thượng cú (kami no ku) Câu 1: 5 âm, Câu 2: 7 âm, Câu 3: 5 âm (5-7-5) Hạ cú (shimo no ku) Câu
Thơ với Thẩn Sao Khuê Reng reng - Sao? Bà bắt tôi thưởng thức cái mà bà bảo là dịch thoát ý thơ Haiku đây ấy à. Trời đất! hết bày đặt làm thơ yết hầu - Cái ông này! Yết hầu đâu mà yết hầu, thơ yết hậu!
ĐẠI CHIẾN ĐÔNG NAM Á 1971 Trong Đặc San Canh Dần của ERCT, sempai Lê Văn Phụng có viết bài "Tuổi Học Trò". Trong bài nầy anh kể lại chuyện đánh nhau v
ĐỜI SỐNG CƯ XÁ KOKUSAI 1971-1975 Ghi lại bởi Đặng Hữu Thạnh Exryu '71 Waseda Xin gửi đến Ban Chấp Hành Hội Sinh Viên Việt Nam và Ban Thương Lượng. Sự hi sinh không màn nguy hiểm và sự hướng dẫn của quý
phihungn_ThaiBinhDiaNhanSuLuoc
Thái Bình địa nhân sử lược Thái Bình là dân ăn chơi Tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành Tung hoành đến tận trời xanh Ngọc hoàng liền hỏi quý anh huyện nào Nam tào Bắc đẩu xông vào Thái Bình anh ở phủ nào
Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị thay đổi, sửa chữa những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi e
ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH Khảo Luận XÂY BÀN & CƠ BÚT TRONG ĐẠO CAO ĐÀI Biên Soạn Ấn bản năm Ất Dậu 2005 Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info.
H˜C VI°N MÁY TÍNH KYOTO
HỌC VIỆN MÁY TÍNH KYOTO (KCG : Kyoto Computer Gakuin) Chương trình Đào tạo HỌC VIỆN MÁY TÍNH KYOTO Tư Vấn Tuyển Sinh 10-5, Nishikujyoteranomae-cho, Minami-ku, Kyoto-shi, Kyoto 601-8407 Japan URL : http://www.kcg.ac.jp/
<4D F736F F D208EC08F4B90B6834B E CEA816A2D8D5A90B38DCF2E646F63>
SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP KỸ NĂNG DÀNH CHO THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG Tổ chức Hợp tác Tu nghiệp Quốc tế LỜI GIỚI THIỆU Chế độ thực tập kỹ năng của Nhật Bản là chế độ tiếp nhận người lao động nước ngoài từ 16
CHƯƠNG TRÌNH Lời chào từ Ban tổ chức Hướng dẫn Học thi Trung Học Phổ Thông Nghỉ giải lao Trả lời câu hỏi Kinh nghiệm học thi từ Sinh viên đã tốt nghiệ
Bản tiếng Việt HƯỚNG DẪN HỌC THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Tài liệu thuộc tỉnh Tochigi 2014 BẰNG NHIỀU NGÔN NGỮ Vietnam ภาษาไทย English Filipino ا ردو ESPAÑOL Português 汉语 Đây là tài liệu được làm dựa trên dữ
Mục lục Khi nào thì bắt đầu cho bé ăn dặm?... 1 Cức giai đoạn ăn dặm... 1 Đ thô ộà đ mềm c a th c ăn... 2 Th i gian cho bé ăn dặm trong ngày... 4 Bắt
ĔNăD M KI U NHẬT Ths. ĐàoăThị Mỹ Khanh Osaka, thứng 12 năm 2008 (Cập nhật ngày 14 thứng 10 năm 2013) Mục lục Khi nào thì bắt đầu cho bé ăn dặm?... 1 Cức giai đoạn ăn dặm... 1 Đ thô ộà đ mềm c a th c ăn...
Làm thế nào người Nhậtđã thành công trong các ngành công nghiệp? 1. Định hướng khách hàng 2. Quan niệm về năng suất 3. Thực hành nhữngđiều cơ bản nhất
Năng suất và 5S Bí mật sự thành công tại Nhật bản 10/11/2006 Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm T11/2006 Chuyên gia JICA, VJCC Hà Nội 1 Làm thế nào người Nhậtđã thành công trong các ngành công nghiệp? 1. Định
Lịch của toàn khi vực Ngày nghỉ lễ rác vẫn Xin vui lòng chấp hành Xin vui lòng vứt rác tại địa điểm và ngày đã được qui định trước 8:30 buổi sáng! Vứt
Cách vứt tài nguyên và rác đúng cách Hướng dẫn cách vứt rác gia đình Xin vui lòng chấp hành Xin vui lòng phân loại tài nguyên và rác Phân loại rác bao gồm 5 loại 1. 2. 3. 4. 5. Xin vui lòng vứt rác tài
00
NGHIỆP ĐOÀN KANTO TRANG THÔNG TIN Số 69 - THÁNG 3 NĂM 2016 Trong số này Lời chào từ Nghiệp đoàn Giới thiệu Thực tập sinh có thành tích học tập cao nhất khóa 133 Hướng dẫn về cuộc thi viết văn lần thứ 24
外国人生徒のための公民(ベトナム語版)
Chương 1 Xã hội hiện tại Khu vực xã hội (1)NGO(Tổ chức phi chính phủ) 1 (2)ODA (Viện trợ phát triển chính phủ) 2 (3)ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) 3 (4)APEC (hội nghị hợp tác kinh tế Châu Á-Thái
施策の概要 就学ガイドブック [ヴェトナム語]
ヴェトナム語版 THAÙNG 4 NAÊM 2005 BOÄ KHOA HOÏC GIAÙO DUÏC 1. GIAÙO DUÏC HOÏC ÑÖÔØNG TAÏI NHAÄT BAÛN 3 2. THUÛ TUÏC NHAÄP HOÏC 13 3. SINH HOAÏT HOÏC ÑÖÔØNG 19 4. TRAO ÑOÅI VEÀ GIAÙO DUÏC 31 1 2 1. GIAÙO DUÏC
untitled
ベトナム語 Vui đ n trư ng ~ Sách hư ng d n v h c đư ng dành cho ph huynh và h c sinh ngư i ngo i qu c ~ y Ban Giáo D c Th Xã Yamato 4 l i ngõ Quy n s tay dành cho các h c sinh và quš phø huynh Khi b t ÇÀu vào
2 Những sách nghiên cứu... Xem thêm : Để làm tài liệu cho quý vị nào quan tâm muốn tìm hiểu thêm, chúng tôi có soạn một tập riêng gồm danh sách những
1 Nước Nhựt Bổn - 30 năm Duy Tân Đào Trinh Nhất - xuất bản năm 1936 Tiểu sử Cụ Đào Trinh Nhất Vài hàng giải thích của bản điện tử Thông tin mới nhất về gia đình Cụ Đào Trinh Nhất và ERCT Mục Lục Vài Lời
Mục lục 1. Trình tự cho đến khi có thể thực hiện thiết kế CAD 1 2. Thao tác cơ bản 5 3. Thiết kế bệ đỡ Cách xuất ra định dạng stl và cách sử dụn
Tài liệu hướng dẫn thao tác in 3DCAD&3D sử dụng FreeCAD (ver.0.17) Manufacturing Human Resource Development Program in Ha Nam Province, Vietnam 1. Aug. 2018 Kobe City College of Technology, Waseda Lab.
Microsoft Word - Thuc don an dam cho be 5-15 thang.doc
THỰC ĐƠN ĂN DẶM KIỂU NHẬT 5-6 tháng Muối không tốt cho thận của bé, vì vậy giai đoạn này không cần nêm muối. Lượng muối cho bé bằng 1/4 lượng muối cho người lớn. Đối với bé ở giai đoạn này, vị nước dashi
(Microsoft Word - Chuong tr\354nh H\340nh Huong Nh?t B?n docx)
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH HƯƠNG NHẬT BẢN MÙA THU 10-2016 (PHẦN 2: MÙA THU LÁ ĐỎ) Nói đến cảnh đẹp của Nhật Bản, không ai không nhắc đến cảm giác đi thưởng ngoạn cảnh sắc mùa lá Phong đỏ ở đây. Mỗi năm cứ đến tháng
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOS
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOSEKI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh
MergedFile
この シンチャオ先生 と次の 生徒にインタビュー のコーナーでは 日本語を教えるベトナム人教師とその生徒であるベトナム 人学習者の双方にお話を伺い 同じ学びの場において立場の異なる視点から感じたことや経験について記事を掲載しています 今号のインタビューに答えてくださったのは 国際交流基金ベトナム日本文化交流センターの HA THI THU HIEN 先生です 日本語を学び始めたのはいつからで これまでどのぐ
NGUYỆT SAN CỎ THƠM ONLINE SỐ 12 THÁNG 11, 2018 MỤC LỤC BIÊN KHẢO: TR12- KIM THÚY, NHÀ VĂN NỮ GỐC VIỆT NỔI TIẾNG Ở CANADA - PHẠM VĂN TUẤN TR34 TƯỞNG NH
Thu Sang Tranh của Thanh Trí, Sacramento USA NGUYỆT SAN CỎ THƠM ONLINE SỐ 12 THÁNG 11, 2018 MỤC LỤC BIÊN KHẢO: TR12- KIM THÚY, NHÀ VĂN NỮ GỐC VIỆT NỔI TIẾNG Ở CANADA - PHẠM VĂN TUẤN TR34 TƯỞNG NHỚ NHẠC
untitled
22. すうじ Các con s 23. おかね Ti n (1) おかね Ti n (2) かいもの Mua s m アイスクリームはいくらですか Kem bao nhiêu ti n? 100 えん 100 yen 1あめ K o 3アイスクリーム Kem 2ガム K o cao su 4チョコレート Sô cô la 24. かぞえかた Cách đ m (tính ) 25. じかん Gi
Văn hóa-lịch sử Huế qua góc nhìn làng xã phụ cận LỊCH SỬ DI CƯ VÀ NGHI LỄ THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA CÁC DÒNG HỌ GỐC HOA Ở HƯƠNG VINH (The history of
Title LỊCH SỬ DI CƯ VÀ NGHI LỄ THỜ CÚNG N CỦA CÁC DÒNG HỌ GỐC HOA Ở HƯƠNG Author(s) KIMURA, Mizuka CULTURE AND HISTORY OF HUE FROM T Citation VILLAGES AND OUTSIDE REGIONS: 89- Issue Date 2010-03-26 URL
< F312D30335F834F E696E6464>
Handicraft industry in Thưa Thiên Huế from 1306 to 1945 NGUYỄN Văn Đăng HI NE ISHIMURA Bồ Ô Lâu Hương Trà Quảng Bình Thưa Thiên Huế Bằng Lãng Tam Giang Thuận Hóa Thanh Hà Bao Vinh Phú Xuân Ái Tử Trà Bát
-HT Hộ Tông -HT Hộ Nhẫn Cùng các Bậc Trưởng Lão PGNT
GIẢNG GIẢI KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN -HT Hộ Tông -HT Hộ Nhẫn Cùng các Bậc Trưởng Lão PGNT Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (Thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri.)
労働条件パンフ-ベトナム語.indd
CÁC BẠN CÓ ĐANG GẶP KHÓ KHĂN TRONG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG KHÔNG? ベトナム語 Gửi đến các bạn người nước ngoài lao động tại Nhật Bản Quầy thảo luận người lao động nước ngoài Đối với người
Bento Thiện pp. John K. Whitmore, Chung-hsing and Cheng-t ung in Text of and on Sixteenth-Century Viet Nam. In Keith Taylor and John K. Whitmore, eds.
Bento Thiện pp. John K. Whitmore, Chung-hsing and Cheng-tung in Text of and on Sixteenth-Century Viet Nam. In Keith Taylor and John K. Whitmore, eds. Essays into Vietnamese Pasts. Ithaca, New York: Southeast
Title フエ地域におけるキン族の城隍神とタインフック村の事例 Author(s) チャン, ディン ハン, 福田, 康男 周縁の文化交渉学シリーズ7 フエ地域の歴史と文化 Citation 周辺集落と外からの視点 : Issue Date URL http:
Title フエ地域におけるキン族の城隍神とタインフック村の事例 Author(s) チャン, ディン ハン, 福田, 康男 周縁の文化交渉学シリーズ7 フエ地域の歴史と文化 Citation 周辺集落と外からの視点 : 601-611 Issue Date 2012-03-01 URL http://hdl.handle.net/10112/6299 Rights Type Article Textversion
Ha y luyê n tâ p thông ba o đê n 119. Khi g. p hoa hoa n Trung tâm PCCC: Đây la 119, pho ng cha y va chư a cha y. Hoa hoa n hay Câ p cư u? Ba n : Hoa
G.i Đi.n Thoa i Đê n 119 Ha y go i bă ng điê n thoa i cô đi nh (điê n thoa i gă n trong nha hoă c điê n thoa i công cô ng). Ngươ i ơ Trung tâm ra lê nh pho ng cha y chư a cha y (PCCC) se biê t đươ c đi
ベトナム人向けの講義 セミナー 研修映像制作サービスの提供開始について 映像の力でベトナム人従業員 実習生 留学生の学びをサポート 株式会社メディアオーパスプラス OCG Technology Joint Stock Company 株式会社メディアオーパスプラス (
ベトナム人向けの講義 セミナー 研修映像制作サービスの提供開始について 映像の力でベトナム人従業員 実習生 留学生の学びをサポート 株式会社メディアオーパスプラス OCG Technology Joint Stock Company 株式会社メディアオーパスプラス (https://www.mediaopusplus.com/ 本社 : 大阪府大阪市 代表取締役 : 竹森勝俊 以下 MOP) と OCG
Lê hô i giao lưu quô c tê Himeji lâ n thư 21 Nga y giơ : 30/10/2016 (Chu nhâ t) 10:00~15:00 (Trơ i mưa vâ n tiê n ha nh) Đi a điê m: Công viên Ohtemae
Tháng 9 năm 2016 sô 58 Bản tin sinh hoạt dành cho ngoại kiều. Phỏng vấn P1 Lê hô i giao lưu quô c tê Himeji lâ n thư 21 P2 Thông tin sư kiê n Mu a thu 2016 P3 Xe đạp cho mọi ngưới Xe đạp mini
Microsoft Word - 4. Do Hoang Ngan OK _2_.doc
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Nước ngoài, Tập 30, Số 4 (2014) 31-37 Đặc điểm của âm tiết tiếng Nhật và vấn đề xác định âm tiết trong tiếng Nhật Đỗ Hoàng Ngân* Phòng Khoa học Công nghệ, Trường Đại
Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị bổ túc, sửa đổi những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi điện
ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH 月 心 Sơ Lược Tiểu Sử NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN Biên Khảo Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG 眞 人 tài liệu sưu tầm 2014 Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info.
6 Xem thêm câu áp chót ở phần cuối mục II: Kinh tế không phát đạt và ý thức không khích lệ là hai nguyên nhân đệ nhất của thất bại trong cách mạng của
Chú Giải Một Số Tác Phẩm Của LÝ Đông A Huỳnh Việt Lang ÁM THỊ BIỂU Vô kỷ tính: không thiện, không ác. Bộ mẹng: Thuộc tiếng Mường, chỉ sự giao du một cách trang trọng. Lý tiên sinh du ng từ bộ mẹng để tiêu
年 2 月 22 日 国家試験に合格した EPA 看護師 介護福祉士候補者が EPA 看護師 介護福祉士として就労する際の手続きについて 公益社団法人国際厚生事業団 受入支援部 1. はじめに 経済連携協定 (EPA) に基づき入国をした EPA 候補者が 看護師国家試験または介護福祉
2 2018 年 2 月 22 日 国家試験に合格した EPA 看護師 介護福祉士候補者が EPA 看護師 介護福祉士として就労する際の手続きについて 公益社団法人国際厚生事業団 受入支援部 1. はじめに 経済連携協定 (EPA) に基づき入国をした EPA 候補者が 看護師国家試験または介護福祉士国家試験に 合格し 引き続き EPA 看護師 介護福祉士として就労を希望する場合には 以下の手続きが必要となります
Tường chống lũ cấy ghép cọc Nguyên tắc ép cọc tĩnh (The Press-in Principle) Tường bảo vệ cấy ghép cọc Các thành tự trước đây / hiện nay Phòng chống lũ
Engineering Group Công nghệ tường chống lũ cấy ghép cọc (implant) mới nhất Tường chống lũ cấy ghép cọc Nguyên tắc ép cọc tĩnh (The Press-in Principle) Tường bảo vệ cấy ghép cọc Các thành tự trước đây /
Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 Nguyen Nhat Anh Thu 副社長 The Interview 現地経営 by タカコベトナム 何度も調整して やっと Thu さんと面談が実現しました 同じ戦後世代ですが 相変わらずエネルギッシュで圧倒されます 同じ留学仲間なので 留学
Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 Nguyen Nhat Anh Thu 副社長 The Interview 現地経営 by タカコベトナム 何度も調整して やっと Thu さんと面談が実現しました 同じ戦後世代ですが 相変わらずエネルギッシュで圧倒されます 同じ留学仲間なので 留学した時の思い出 共通の知り合いの話など 実に懐かしかった 次第に家族や仕事の話になり インタービューであることを忘れて
Abe Industrial Vietnam Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 高橋馨 社長 The Interview Abe Industrial Vietnam を成長させた秘訣 Bí quyết xây dựng và phát triển Abe Industrial Vi
Abe Industrial Vietnam Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 高橋馨 社長 The Interview Abe Industrial Vietnam を成長させた秘訣 Bí quyết xây dựng và phát triển Abe Industrial Việt Nam Abe Industrial Vietnam は日本の阿部製作所の子会社 製品は 100%
Bạn Lê Hữu Sở (Agriteck Japan) "Bước tới nước Nhật trong cái lạnh tê tái của mùa đông,mọi thứ như đóng băng lại,bàn tay buốt giá của tôi run cầm cập.m
Hiện nay ở Việt Nam có thể tình cờ bắt gặp rất nhiều người nói tiếng Nhật. Trong số đó có những người đã đi Nhật và hoạt động rất tích cực trên nhiều lĩnh vực, góp phần trở thành cầu nối của 2 nước Việt
Microsoft PowerPoint vn Matsuki-Technical standards [互換モード]
Bài thuyết trình số 2 24 tháng 3 năm 2014 Tiến sĩ Matsuki Hirotada: Chuyên gia JICA về Giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra "Tiêu chuẩn kỹ thuật" Mỏ hàn và kè lát mái ở Nhật Bản và trên thế giới Sông
Tuổi khác nhau, trình độ cũng khác nhau, cách dạy và học cũng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở lộ trình học. Đầu tiên, các em tập viết, tập phát âm t
Bản tin Yêu Mến Số 4 ニュースレターユーメン 17/09/2014 Phát hành bởi VIETNAM yêu mến KOBE 653-0052 Kobeshi Nagataku Kaiuncho 3-3-8 発行 : ベトナム夢 KOBE E-mail: [email protected] Tel&Fax:078-736-2987 Báo cáo hoạt động
現代社会文化研究
No.34 2005 12 Abstract Từ khi chính sách đổi mới của Việt Nam được bắt đầu vào năm 1986, đến nay đã gần 20 năm. Chính sách này đã giúp duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua. Tuy nhiên
2 日本語らしい発音 にするには シャドーイング 日本語の発音がもっと上手くなりたい! そのもう一つの方法として シャドーイング があります - シャドーイングとは?- ネイティブの人が読んだ日本語を聞きながら それと同じ文章をそっくりそのまま音読することです - シャドーイングをする時のポイントは
2 月 23 日 ( 土 ) に VJCC ハノイで ベトナム人のための日本語音声教育セミナー をテーマに日本語教育セミナーを行いました 講師は 外国語音声教育研究会の皆さまです 2 月当日は 41 名 ( ベトナム人 21 名 日本人 20 名 ) の参加者のもと ベトナム語と日本語の音声のしくみをわかりやすくまとめた上で ベトナム人に特有の発音の問題について考えました その後で 毎日のクラスの中で実際に行える指導法についてのワークショップを行いました
Microsoft Word - speech.docx
Ngày 6/3/2014 Ông MORI Mutsuya Trưởng đại diện Văn phòng JICA Việt Nam Họp báo hàng năm Nhìn lại hoạt động trong năm 2013 Tôi là Mori Mutsuya, Trưởng đại diện Văn phòng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
*4-1 これから 通訳 PTA 活動 子どもの安全と健康を守るためのいろいろな制度のことをお話します Chúng tôi xin nói chuyện về việc thông dịch, hoạt động của hội PTA (hội phụ huynh và giáo viên), c
*4-1 これから 通訳 PTA 活動 子どもの安全と健康を守るためのいろいろな制度のことをお話します Chúng tôi xin nói chuyện về việc thông dịch, hoạt động của hội PTA (hội phụ huynh và giáo viên), các chế độ để bảo vệ an toàn và sức khỏe cho trẻ em.
文理侯陳公補考 蓮田隆志 問題の所在 (2) (1) (1) 1 文理侯陳公碑 Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc về Viện Hàn lâm Khoa hoc Xã hội Việt Nam (2) 29
文理侯陳公補考 蓮田隆志 問題の所在 2005 3 (2) (1) (1) 1 文理侯陳公碑 Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc về Viện Hàn lâm Khoa hoc Xã hội Việt Nam 19307 (2) 29 23 (3) phiên âm (4) [Đinh và Trần (chủ biên) 2007: 107-113] thôn Mật,
Như chúng ta sẽ thấy, nhiều phương diện của ngữ pháp tiếng Việt là dễ chứ không khó. Trên thực tế, nói một cách chính xác hơn, tiếng Việt đa phần là m
TIẾNG VIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT NGÔN NGỮ KHÓ KHÔNG? Is Vietnamese A Hard Language? 㗂越𣎏沛羅𠬠言語𧁷空? Tác giả: Jack Halpern ( 春遍雀來 ) 1. LỜI ĐỒN ĐẠI HAY LÀ SỰ THẬT? 1.1 Học tiếng Việt có khó không? Học tiếng Việt có
専門学校アリス学園 日本語学科募集要項 2017 TRƯỜNG QUỐC TẾ ALICE THÔNG TIN TUYỂN SINH KHOA TIẾNGNHẬT NĂM 2017 学校法人アリス国際学園 専門学校アリス学園 921-8176 石川県金沢市円光寺本町 8-50 Tên trường : TRƯỜNG QUỐC TẾ ALICE Số bưu điện : 921-8176 Địa chỉ
京都教育大学 外国人の子どもの教育を考える会
京都教育大学 外国人の子どもの教育を考える会 はじめに このワークブックは 多言語に対応した小学校算数科の問題集です 各学年の算数科の内容をわかりやすく解説したビデオコンテンツを観た後に 練習用としてご活用ください ビデオコンテンツは http://tagengohonyaku.jp/ で観ることができます 問題を解き終わったら 巻末の解答を活用して答え合わせをしてください 間違ったところは 再度,
Chương 1 Công tác an toàn cần cho việc gì? だいあんぜんさ第 1 安全作業 ぎょうは何 なんひつようのために必要か? Sự cần thiết của công tác an toàn 1) Nếu bạn bị thương hay khuyết tật
Dành cho thực tập sinh kỹ năng Bước đầu tiên để thực tập sinh kỹ năng thực hiện các công việc xây dựng an toàn Tháng 3 năm 2015 Chương 1 Công tác an toàn cần cho việc gì? だいあんぜんさ第 1 安全作業 ぎょうは何 なんひつようのために必要か?
Title Author(s) 日本語とベトナム語における使役表現の対照研究 : 他動詞 テモラウ ヨウニイウとの連続性 Nguyen Thi, Ai Tien Citation Issue Date Text Version ETD URL
Title Author(s) 日本語とベトナム語における使役表現の対照研究 : 他動詞 テモラウ ヨウニイウとの連続性 Nguyen Thi, Ai Tien Citation Issue Date Text Version ETD URL https://doi.org/10.18910/50580 DOI 10.18910/50580 rights 論文内容の要旨 氏名 ( N G U Y E
Japanese 日本語 脱退一時金は原則として以下の 4 つの条件にすべてあてはまる方が国民年金 厚生年金保険又は共済組合の被保険者資格を喪失し 日本を出国後 2 年以内に請求されたときに支給されます 1 日本国籍を有していない方 2 国民年金の第 1 号被保険者としての保険料納付済期間の月数と保
Dành cho người nước ngoài rời khỏi Nhật Bản Người có tham gia đóng trợ cấp lương hưu từ 6 tháng trở lên sẽ được quyền nhận trợ cấp lương hưu trọn gói.tuy nhiên, một khi đã nhận trợ cấp lương hưu trọn gói
không khí ít bị ô nhiễm vì không có xe gắn máy, nhưng trên tàu người ta dùng cái bịt miệng khẩu trang tránh bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp vì đông
TOKYO MỘT THOÁNG MƯA BAY Sau thế chiến thứ hai kinh tế Nhật Bản phục hồi và phát triển nhanh chóng trở thành cường quốc số 1 Á Châu. Dân tộc Nhật đã làm thế giới phải kính phục. Gơn 40 năm ở Đức chúng
1 ページ
1 ページ 2 ページ 3 ページ 4 ページ 5 ページ 6 ページ 7 ページ 8 ページ 9 ページ 10 ページ 11 ページ 12 ページ 13 ページ 14 ページ 15 ページ 16 ページ 17 ページ 18 ページ 19 ページ 20 ページ 21 ページ 22 ページ 23 ページ 原田明子様 PC あきない 受注センターの山本です この度は 当店へご注文をいただきまして誠にありがとうございます
技能実習生手帳 ( ベトナム語版 ) SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG (Bản tiếng Việt) 氏名 / Họ tên 所有者 ( 技能実習生氏名 )/ Chủ sở hữu sách (họ tên thực tập sinh kỹ năng) 名
技能実習生手帳 ( ベトナム語版 ) SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG (Bản tiếng Việt) 氏名 / Họ tên 所有者 ( 技能実習生氏名 )/ Chủ sở hữu sách (họ tên thực tập sinh kỹ năng) 名称 住所 連絡先 / Tên, địa chỉ, cách thức liên hệ 監理団体 / Đơn
( ベトナム語版 ) (Dành cho tu nghiệp kỹ năng thực tập sinh nước ngoài) ( 外国人技能実習生のための ) Bảng tự khai báo cho cơ quan y tế 医療機関への自己申告表 Đây là các mục cần thi
Dành cho tu nghiệp kỹ năng thực tập sinh nước ngoài ベトナム語版 Bảng tự khai báo cho cơ quan y tế Phiếu hỏi khám bổ sung TỔ CHỨC HỢP TÁC TU NGHIỆP QUỐC TẾ NHẬT BẢN 公益財団法人国際研修協力機構 ( ベトナム語版 ) (Dành cho tu nghiệp
けんこうわたしの健康カード The i tê cu a tôi - ベトナム語 やさしい日本語 - -Tiê ng Viê t Nam Tiê ng Nhâ t dê - しゃかいふく 社会福 し祉 ほうじん法人さぽうと 2 1 Support21 Social Welfare Foundation
わたしの健康カード The i tê cu a tôi - ベトナム語 やさしい日本語 - -Tiê ng Viê t Nam Tiê ng Nhâ t dê - しゃかいふく 社会福 し祉 ほうじん法人さぽうと 2 1 Support21 Social Welfare Foundation 平成 25 年度 生活者としての外国人 のための日本語教育事業 地域日本語教育実践プログラム (A) The
[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Rác phải vứt ở bãi tập trung rá
[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Vui lòng phân loại rác, tuân thủ địa điểm và ngày của bãi tập trung rác mà mình vứt
[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Rác phải vứt ở bãi tập trung rá
[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Nhân vật biểu tượng về giảm rác thải Cleancle-chan ベトナム語 Vui lòng phân loại rác, tuân
ベトナム領メコン・デルタ開発の現状とその影響
No.26 2003 3 Tuy người Việt Nam đã đến khẩn hoang lập ấp rải rác trong Đồng Bằng Sông Cửu Long từ lâu. Song đến năm 1757 chúa Nguyễn mới chính thức thiết lập sự cai trị ở vùng đất này. Thế là từ đó, Đồng
CODE Tittle SÁCH TIẾNG NHẬT - BOOKS IN JAPANESE CICE-NH-001 N1 聞く CICE-NH-002 コロケーションが身につく日本語表現練習帳 CICE-NH-003 日本語能力試験 N1.N2 語彙 CICE-NH-004 日本語能力試験 N1
CODE Tittle SÁCH TIẾNG NHẬT - BOOKS IN JAPANESE CICE-NH-001 N1 聞く CICE-NH-002 コロケーションが身につく日本語表現練習帳 CICE-NH-003 日本語能力試験 N1.N2 語彙 CICE-NH-004 日本語能力試験 N1 文法問題集 CICE-NH-005 日本語能力試験 N1 文学語彙 問題集 CICE-NH-006
Để tưởng niệm Vĩnh Sính ( ), một nhà Nhật Bản Học tiên phong và người ngưỡng mộ Bashô. 2
Nguyên tác: Ueda Makoto Biên dịch và bình chú: Nguyễn Nam Trân MATSUO BASHÔ Bậc Đại Sư Haiku Bashô trên đuờng du hành (tranh của Morikawa Kyoriku 森川許六 1656-1715, một đệ tử) 1 Để tưởng niệm Vĩnh Sính (1944-2014),
