sạch, cắt ra từng khúc, rồi cắt trải ra như một miếng thịt (chứ không để khứa tròn như lẩu lươn), nướng lên, chế lên vài muỗng sauce ( かば焼きのたれ ), và r

Similar documents
Microsoft Word - DAI THUA 100 PHAP _hoan chinh_.doc

bộ khẩu tức là cái miệng. Cái miệng con người phát ngôn ra lời nói nhanh như mũi tên và mũi tên ấy sẽ mang đến cho chúng ta cả điều lợi lẫn điều hại;

語彙リスト_ベトナム語(10Q).indd

平成25年度全国学力・学習状況調査:保護者に対する調査(小学校調査票)ベトナム語版

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ĐÀO DUY TÙNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: LUẬ

[PDF] SỔ TAY HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN QUỐC TẾ

Contents

日本留学試験の手引き_ベトナム語版

Microsoft Word - NhanGianDuKi-ISO-A5.doc

労災保険外国人向けパンフ第二編_ベトナム語

W06_viet01

2

PTB TV 2018 ver 8

1.Khóa tuyển sinh Số học viên Khóa tuyển sinh Thời gian nhập học Số học viên Khoa tiếng nhật Khóa học 1 năm Khoá học 2 năm Tháng 4 40 người (20 người

意識_ベトナム.indd

Mục lục Lời mở đầu 1 1 Ba loại tai nạn lao động thường xảy ra trong khi hàn 2 2 Những công việc nhiều tai nạn gây tử vong 2 3 Tai họa và các nghi vấn

KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG HẬU TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU-MA-LA-THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN Việt dịch và chú giải NGUYỄN MINH H

CUỘC CÁCH MẠNG MỘT-CỌNG-RƠM MASANOBU FUKUOKA (Bản sách điện tử lần thứ nhất) Biên dịch: XanhShop Lời giới thiệu và hiệu đính: Hoàng Hải Vân Lời giới t

La-hán Ba Tiêu Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài tr

労災保険外国人むけパンフ第一編_ベトナム語i

HỘI NGỘ ĐÀ NẴNG 2016 CÁM ƠN Ý TƯỞNG VÀ BÀI VỞ CỦA ANH CHỊ CỰU SINH VIÊN ĐHSP HUẾ 2 KHÓA LƯƠNG VĂN CAN VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG. CÁM ƠN TRANG BLOG ANH TRẦN

có 5 hay 7 âm tiết xen kẽ nhau, có thể chia làm hai phần: Thượng cú (kami no ku) Câu 1: 5 âm, Câu 2: 7 âm, Câu 3: 5 âm (5-7-5) Hạ cú (shimo no ku) Câu

phihungn_ThaiBinhDiaNhanSuLuoc

THÔNG SỐ KỸ THUẬT BẢN VẼ LẮP ĐẶT Sản phẩm Tối thiểu Áp lực sử dụng (động) Tối đa (tĩnh) Nhiệt độ sử dụng Chất lượng nước sử dụng Vùng thường Nhiệt độ

Heike monogatari là một truyện kể xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII, kể lại cuộc xung đột giữa hai dòng họ có thế lực là họ Taira và họ Minamoto. Xét v

Mùa Khô

Khái quát cấu trúc Hệ thống Kiểm soát Tổng tải lượng Ô nhiễm (TPLCS) Chương 1 Tính cần thiết của TPLCS 1.1 Tổng quan về TPLCS Ô nhiễm nước xảy ra khi

ĐẠI CHIẾN ĐÔNG NAM Á 1971 Trong Đặc San Canh Dần của ERCT, sempai Lê Văn Phụng có viết bài "Tuổi Học Trò". Trong bài nầy anh kể lại chuyện đánh nhau v

Lịch của toàn khi vực Ngày nghỉ lễ rác vẫn Xin vui lòng chấp hành Xin vui lòng vứt rác tại địa điểm và ngày đã được qui định trước 8:30 buổi sáng! Vứt

Tài chính Quan hệ Cộng đồng Quản trị căn bản Pháp lý Các loại rủi ro Dự án Tình hình Tài chính Mục tiêu công ty Giá cả Môi trường - Tử vong - Thương t

Quả bưởi có nhiều múi, mỗi trái được trung bình khoảng 12 múi. Phân tích 100 gam dịch quả bưởi chín, thu được 89 gam nước, 9 gam glucid, 0,6 gam proti

ĐVT: tấn STT Khối lượng Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2008 CTR CTR Công nghiệp 1.991, , , , ,747

Student Guide to Japan (Vietnamese Version)

Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị thay đổi, sửa chữa những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi e

Mục lục Khi nào thì bắt đầu cho bé ăn dặm?... 1 Cức giai đoạn ăn dặm... 1 Đ thô ộà đ mềm c a th c ăn... 2 Th i gian cho bé ăn dặm trong ngày... 4 Bắt

CHƯƠNG TRÌNH Lời chào từ Ban tổ chức Hướng dẫn Học thi Trung Học Phổ Thông Nghỉ giải lao Trả lời câu hỏi Kinh nghiệm học thi từ Sinh viên đã tốt nghiệ

(Microsoft Word - Chuong tr\354nh H\340nh Huong Nh?t B?n docx)

Bia 1_VHPG_268_17.indd

外国人生徒のための公民(ベトナム語版)

<4D F736F F D208EC08F4B90B6834B E CEA816A2D8D5A90B38DCF2E646F63>

H˜C VI°N MÁY TÍNH KYOTO

untitled

Làm thế nào người Nhậtđã thành công trong các ngành công nghiệp? 1. Định hướng khách hàng 2. Quan niệm về năng suất 3. Thực hành nhữngđiều cơ bản nhất

00

施策の概要 就学ガイドブック [ヴェトナム語]

Microsoft Word - Thuc don an dam cho be 5-15 thang.doc

労働条件パンフ-ベトナム語.indd

untitled

2 Những sách nghiên cứu... Xem thêm : Để làm tài liệu cho quý vị nào quan tâm muốn tìm hiểu thêm, chúng tôi có soạn một tập riêng gồm danh sách những

Mục lục 1. Trình tự cho đến khi có thể thực hiện thiết kế CAD 1 2. Thao tác cơ bản 5 3. Thiết kế bệ đỡ Cách xuất ra định dạng stl và cách sử dụn

MergedFile

NGUYỆT SAN CỎ THƠM ONLINE SỐ 12 THÁNG 11, 2018 MỤC LỤC BIÊN KHẢO: TR12- KIM THÚY, NHÀ VĂN NỮ GỐC VIỆT NỔI TIẾNG Ở CANADA - PHẠM VĂN TUẤN TR34 TƯỞNG NH

-HT Hộ Tông -HT Hộ Nhẫn Cùng các Bậc Trưởng Lão PGNT

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thanh Phương VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOS

Ha y luyê n tâ p thông ba o đê n 119. Khi g. p hoa hoa n Trung tâm PCCC: Đây la 119, pho ng cha y va chư a cha y. Hoa hoa n hay Câ p cư u? Ba n : Hoa

Bento Thiện pp. John K. Whitmore, Chung-hsing and Cheng-t ung in Text of and on Sixteenth-Century Viet Nam. In Keith Taylor and John K. Whitmore, eds.

Văn hóa-lịch sử Huế qua góc nhìn làng xã phụ cận LỊCH SỬ DI CƯ VÀ NGHI LỄ THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA CÁC DÒNG HỌ GỐC HOA Ở HƯƠNG VINH (The history of

Title フエ地域におけるキン族の城隍神とタインフック村の事例 Author(s) チャン, ディン ハン, 福田, 康男 周縁の文化交渉学シリーズ7 フエ地域の歴史と文化 Citation 周辺集落と外からの視点 : Issue Date URL http:

< F312D30335F834F E696E6464>

Tường chống lũ cấy ghép cọc Nguyên tắc ép cọc tĩnh (The Press-in Principle) Tường bảo vệ cấy ghép cọc Các thành tự trước đây / hiện nay Phòng chống lũ

ベトナム人向けの講義 セミナー 研修映像制作サービスの提供開始について 映像の力でベトナム人従業員 実習生 留学生の学びをサポート 株式会社メディアオーパスプラス OCG Technology Joint Stock Company 株式会社メディアオーパスプラス (

Bạn Lê Hữu Sở (Agriteck Japan) "Bước tới nước Nhật trong cái lạnh tê tái của mùa đông,mọi thứ như đóng băng lại,bàn tay buốt giá của tôi run cầm cập.m

Microsoft Word - 4. Do Hoang Ngan OK _2_.doc

Microsoft PowerPoint vn Matsuki-Technical standards [互換モード]

Lê hô i giao lưu quô c tê Himeji lâ n thư 21 Nga y giơ : 30/10/2016 (Chu nhâ t) 10:00~15:00 (Trơ i mưa vâ n tiê n ha nh) Đi a điê m: Công viên Ohtemae

現代社会文化研究

Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 Nguyen Nhat Anh Thu 副社長 The Interview 現地経営 by タカコベトナム 何度も調整して やっと Thu さんと面談が実現しました 同じ戦後世代ですが 相変わらずエネルギッシュで圧倒されます 同じ留学仲間なので 留学

6 Xem thêm câu áp chót ở phần cuối mục II: Kinh tế không phát đạt và ý thức không khích lệ là hai nguyên nhân đệ nhất của thất bại trong cách mạng của

年 2 月 22 日 国家試験に合格した EPA 看護師 介護福祉士候補者が EPA 看護師 介護福祉士として就労する際の手続きについて 公益社団法人国際厚生事業団 受入支援部 1. はじめに 経済連携協定 (EPA) に基づき入国をした EPA 候補者が 看護師国家試験または介護福祉

Ebook được làm theo Ấn-Bản phổ biến trên Website của daocaodai.info. Mọi góp ý, đề nghị bổ túc, sửa đổi những sơ sót, có thể có, xin vui lòng gởi điện

京都教育大学 外国人の子どもの教育を考える会

không khí ít bị ô nhiễm vì không có xe gắn máy, nhưng trên tàu người ta dùng cái bịt miệng khẩu trang tránh bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp vì đông

Japanese 日本語 脱退一時金は原則として以下の 4 つの条件にすべてあてはまる方が国民年金 厚生年金保険又は共済組合の被保険者資格を喪失し 日本を出国後 2 年以内に請求されたときに支給されます 1 日本国籍を有していない方 2 国民年金の第 1 号被保険者としての保険料納付済期間の月数と保

1 ページ


*4-1 これから 通訳 PTA 活動 子どもの安全と健康を守るためのいろいろな制度のことをお話します Chúng tôi xin nói chuyện về việc thông dịch, hoạt động của hội PTA (hội phụ huynh và giáo viên), c

Tuổi khác nhau, trình độ cũng khác nhau, cách dạy và học cũng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở lộ trình học. Đầu tiên, các em tập viết, tập phát âm t

Abe Industrial Vietnam Nguyen Dinh Phuc 代表取締役社長 高橋馨 社長 The Interview Abe Industrial Vietnam を成長させた秘訣 Bí quyết xây dựng và phát triển Abe Industrial Vi

Như chúng ta sẽ thấy, nhiều phương diện của ngữ pháp tiếng Việt là dễ chứ không khó. Trên thực tế, nói một cách chính xác hơn, tiếng Việt đa phần là m

2 日本語らしい発音 にするには シャドーイング 日本語の発音がもっと上手くなりたい! そのもう一つの方法として シャドーイング があります - シャドーイングとは?- ネイティブの人が読んだ日本語を聞きながら それと同じ文章をそっくりそのまま音読することです - シャドーイングをする時のポイントは

文理侯陳公補考 蓮田隆志 問題の所在 (2) (1) (1) 1 文理侯陳公碑 Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc về Viện Hàn lâm Khoa hoc Xã hội Việt Nam (2) 29

Chương 1 Công tác an toàn cần cho việc gì? だいあんぜんさ第 1 安全作業 ぎょうは何 なんひつようのために必要か? Sự cần thiết của công tác an toàn 1) Nếu bạn bị thương hay khuyết tật

Title Author(s) 日本語とベトナム語における使役表現の対照研究 : 他動詞 テモラウ ヨウニイウとの連続性 Nguyen Thi, Ai Tien Citation Issue Date Text Version ETD URL

けんこうわたしの健康カード The i tê cu a tôi - ベトナム語 やさしい日本語 - -Tiê ng Viê t Nam Tiê ng Nhâ t dê - しゃかいふく 社会福 し祉 ほうじん法人さぽうと 2 1 Support21 Social Welfare Foundation

[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Rác phải vứt ở bãi tập trung rá

[Bản phát hành năm 2018] Cách phân loại và cách vứt rác gia đình Ngày 01 tháng 04 năm 2018 ~ ngày 31 tháng 03 năm 2019 Rác phải vứt ở bãi tập trung rá

Microsoft Word - speech.docx

ベトナム領メコン・デルタ開発の現状とその影響

( ベトナム語版 ) (Dành cho tu nghiệp kỹ năng thực tập sinh nước ngoài) ( 外国人技能実習生のための ) Bảng tự khai báo cho cơ quan y tế 医療機関への自己申告表 Đây là các mục cần thi

技能実習生手帳 ( ベトナム語版 ) SÁCH HƯỚNG DẪN THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG (Bản tiếng Việt) 氏名 / Họ tên 所有者 ( 技能実習生氏名 )/ Chủ sở hữu sách (họ tên thực tập sinh kỹ năng) 名

Transcription:

Tháng Sáu Trời Mưa lỡ dòng đời điểm tóc muối tiêu còn giây phút chạnh lòng như.. mới lớn! (Thơ Nguyễn Tất Nhiên) Gần hai tháng nay, từ khi rời Nhật trở về Mỹ, nhiều chuyện dồn dập xảy ra, nào mẹ tôi bị té phải nằm bịnh viện và rehap cả sáu tuần nay, nào những người bạn thân thời trung học, kẻ mổ túi mật, người đang nằm ở rehab bị trả lại bịnh viện Stanford để điều trị. Người như đi trên mây, tâm chưa tịnh và bồng bềnh thì làm sao tôi có thể tập trung tư tưởng để ghi lại vài dòng về quê hương thứ hai, Nhật Bản, sau chuyến đi mùa xuân vừa qua. Bây giờ là tháng 6, nước Nhật đang vào mùa mưa, được gọi là tsuyu ( 梅雨 ). Tháng 6, ở Mỹ là mùa tốt nghiệp, cũng là mùa bải trường. Lâu lắm, tôi mới viết lại hai tiếng "bải trường". "Bải trường" nghe như một rung động nào đó vọng về từ một tiềm thức xa xưa. Xưa lắm rồi, có lẽ hơn 60 năm về trước. Nhớ về những hàng phượng vỹ nằm dọc theo trường tiểu học của tỉnh nhỏ ở miền Ðông Nam Phần. Những cây phượng nầy được chúng tôi đào lổ trồng, tưới nước hàng ngày. Năm đó tôi học lớp nhì. Nhớ đến ngày đó năm xưa, những người bạn nhỏ, như Lê Văn Tốt, Ðào Văn Sinh, Lê Công Thành, kẻ đã nằm xuống cho quê hương như Sinh tại Bến Lức, vừa mới ra Khóa 1/68 Thủ Ðức được chừng 6 tháng. Năm đó Sinh mới 20 tuổi. Còn những người bạn nhỏ khác như Tốt và Thành thì không còn nghe tin từ khi tôi đậu vào đệ thất.mùa hè ở Mỹ không có phượng đỏ, nhưng có một loại cây giống như phượng, hoa màu tím. Lần nào đi về San Jose qua Milpitas, dọc theo freeway 680, nhìn những cành phượng tím nầy mà trong lòng không khỏi bùi ngùi khi nhớ về mùa hè và những hàng cây phượng đỏ năm nào của một quá khứ thật xa. Nhớ mùa phượng vỹ năm nào Tiếng ve rả rích cổng vào trường xưa (thơ của ai đó) Mùa hè ở tỉnh lẽ, tôi không có đi học tư như ở Sài Gòn. Ban ngày, tôi cùng chúng bạn hàng xóm đi đào lổ để bắt dế. Ðổ nước vào hang cho dế bị ngộp chui ra, tóm lấy, bỏ vào hộp, hay đi theo các chú tôi đi cắm câu, ngày nào cũng có cá, không cá rô, thì cá trê, thỉnh thoảng có được vài con lươn, đem về. Nếu ngày đó tôi biết món "Unagi Don"( 鰻丼 ), chắc có lẽ tôi sẽ làm món nầy, lươn được làm

sạch, cắt ra từng khúc, rồi cắt trải ra như một miếng thịt (chứ không để khứa tròn như lẩu lươn), nướng lên, chế lên vài muỗng sauce ( かば焼きのたれ ), và rắc lên "shichimi togarashi" ( 七味唐辛 ) 子 ). Khi miếng thịt lươn được nướng xong, bỏ lên tô cơm nóng... yummy.. Mỗi lần đi Nhật, trước khi về Mỹ, tôi đều ghé lại cái tiệm nằm ở một cái mall dưới đường hầm ở nhà ga Shinjuku, gần chổ deiriguchi của Keio Shinsen ( 京王新線 ). Nó chỉ bán "Unagi Don". Giá không rẽ lắm, khoảng 3,000 yen ~ 4,500 yen. Trở lại câu chuyện mùa hè của tôi ở tỉnh nhỏ, ban ngày là thế, ban đêm thì tôi nghe chú sáu kể chuyện Tề Thiên đánh với Na Tra. Na Tra cỡi vòng Càng Khôn đánh với Tề Thiên. Tôi nghe mê quá, ngày nào cũng bắt chú sáu kể cho nghe. Tôi nghe và ngủ thiếp, chú bồng tôi vào giường gỗ đặt ở nhà trên để ngủ với ông nội. Ngày đó miền Nam thật thanh bình. Tôi sống những ngày của tuổi nhỏ thật bình yên với ruộng đồng xanh ngắt bên lũy tre ngoài ngõ. Mùa xuân năm nay, tôi đáp Shinkansen đi về miền nam nước Nhật, Kagoshima, cực nam của đảo Honshu, mà ngày xưa người ta gọi Kagoshima là "Satsuma no kuni ( 薩摩国 ) ". Tôi đến nhà ga "Kagoshima Chuo Eki" khi trời vừa chạng vạng tối. Tôi gọi taxi đi đến hotel, "Best Western Rembrandt", nơi tôi sẽ ở đây hai đêm. Bác tài biết tôi là người ngoại quốc từ California đến viếng thăm thành phố cực nam nầy, bác có vẻ cảm kích, và giới thiệu đến tôi " やっぱり鹿児島というのは西郷さんと桜島ですね (Nói đến Kagoshima là nói đến Saigo-san và núi lửa Sakurajima). Saigo mà bác tài nói đến là ông Saigo Takamori ( 西郷隆盛 ) mà có lẽ có lẽ ai trong chúng ta cũng dịp xem phim "The Last Samurai", phản ảnh hình ảnh và câu chuyện của ông Saigo Takamori, mặc dù trong phim, người ta cho "ông" cái tên là "Katsumoto". Hotel Best Western Reambradt nằm cạnh bên bờ biển, ngó qua bên kia là Sakurajima. Viết đến đây, "ngó qua bên kia là Sakurajima", nhớ đến vài câu thơ nói về "bên kia", nói về sự tích "Chùa Phù Dung" ở Hà Tiên. Câu chuyện nói về một thiếu nữ nhà quê bị ông Mạc Thiên Tứ ép lấy làm thứ thiếp, anh chàng bị mất người yêu nhìn qua "bên kia" sông mà nhớ người xưa : Ngó qua bên bến Tô Châu Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm Về sau vì người vợ cả của Mạc Thiên Tứ quá ghen, người thứ thiếp tên là Tiên Dung, xin cắt tóc đi tu, tặng người yêu ở "bên kia" bến Tô Châu, và gởi về cha mẹ để tạ lỗi cho trọn tình. Ngôi chùa nhỏ mà nàng Tiên Dung đi tu, về sau được bà vợ cả của Mạc Thiên Tứ trùng tu, gọi là "Chùa Phù Dung".

Tắm rửa xong, tôi đi xuống lobby hỏi tiệm ăn tối. Họ nói tôi phải đi ra Chuo eki mới có nhiều tiệm ăn hơn. Nhân viên trong hotel cho tôi biết thêm, mấy hôm nay không có eruption, nên không thấy khói tỏa ra. Có lẽ để thấy khói trên đỉnh Sakurajima cũng phải có cái duyên như thấy Fuji-san với tuyết trắng xóa trên đỉnh trong một ngày đẹp trời. Thế mới biết, gặp được người nào, hay được thấy một cảnh vật nào, cũng phải có cái duyên của nó, mà tiếng Nhật gọi là " 縁がある " (En ga aru). Sau một chuyến đi xa, tôi cảm thấy hơi mệt mỏi, tôi làm biếng đi xuống phố, nên ghé qua "Seven Eleven" bên kia đường mua vài thức ăn cho tiện. Ðúng như cho "tiện" (convenience store), người Nhật gọi là "Konbini". Khác với cái thuở mình ở Nhật, hầu như không có những "Konbini", nhưng bây giờ thì "konbini" ở khắp ngõ. Kế bên "Seven Eleven", là một parking lot, và kế bên lại là một "konbini" nữa, tên gọi là "Lawson". "Konbini" ở Nhật lớn hơn và bán nhiều thực phẩm, và đồ dùng hơn ở Mỹ. Ở đây người ta có thể mua "Cup Noodle", và ăn tại tiệm, vì có nước sôi, và đủa cho khách hàng cần ăn liền. Họ có bán salad, vài thứ rau cải, sushi, "oden" còn nóng bỏ trong tray, áo quần lót, kem đánh răng, basic mỹ phẩm cho các cô etc. Mặc dù hai tiệm cách nhau chỉ có các parking lot, nhưng tiệm nào cũng đông khách. Tôi có đọc một article nào đó nói về các "konbini" nầy, tác giả viết, có lẽ ngoài cell phone, "konbini" dính liền với đời sống của người Nhật trong thế hệ nầy. Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm, ăn sáng trong hotel. Chỗ ăn sáng nhìn qua bên kia là "Sakurajima". Buổi sáng hôm nay thấy có một ít ánh nắng mặt trời, nhưng vẫn không có khói tỏa ra, trừ những đám mây vẫn còn che khuất đỉnh "Sakurajima". Tôi nhìn ra biển rộng ở phía xa và "Sakurajima", mà như nghe thấy một bình an trong lòng. Sakurajima (Kagoshima) nhìn từ hotel Best Western

Tin tức khí tượng cho biết hôm nay "kumori" (cloudy) buổi sáng, và có mưa về buổi chiều. Sau khi được người ở khách sạn chỉ cho "bus stop", và time schedule, tôi đi đến bus stop. Trong khi chờ xe bus đến, tôi mới để ý thấymột cây nở đầy hoa, màu vàng (như một thuở, "aó nàng vàng tôi về yêu hoa cúc), không biết tên gì, định hỏi, thì một cặp vợ chồng đứng kế bên, hỏi tôi biết tên của hoa nầy không. Vì tên của một loài hoa, tôi có bạn mới. Hai vợ chồng nầy đi cùng với hai người bạn nữa, lần đầu tiên họ đến Kagoshima như tôi. Họ đến từ thành phố Kamakura, và một ngạc nhiên khác là người chồng, cũng tốt nghiệp từ Yamanashi Daigaku, sau tôi một năm. Chúng tôi nói về thầy "Gakucho-sensei", Furuya-sensei, về campus nhìn thấy Phú Sĩ, trong những ngày mùa đông với tuyết phủ đầy trên đỉnh, về "Takeda Shingen" Jinja ( 武田神社 ) nằm ở cuối đường trên con dốc thoai thoải dẫn đến trường. Hóa ra thế giới nầy nhỏ thật (it is a small world). Người bạn mới, Sato Shu ( 佐藤修 ), cho tôi số phone và mời đến nhà ở Kamakura khi có dịp. Tôi xuống xe bus ở "I-shin Furusato-Kan" mae ( 維新ふるさと館 ), chúng tôi giả từ ở đây. Ði qua một chiếc cầu dẩn vào "Ishin Furusato Kan", bên dưới là một con sông nhỏ chảy ra vịnh Kagoshima. Chiếc cầu dẩn vào I-shin Furusato-Kan, ( 維新ふるさと館 )

Mua vé xong, tôi bước vào bên trong, thì được hai người, một người mặc âu phục có râu kẽm, và người kia thì mặc kimono trên tay có bồng một con chó nhỏ ", ra tiếp đón. Hỏi ra, đó là hai ông: Okubo Toshimichi, 大久保利通 (người mặc âu phục), còn người kia là Saigo Takamori, 西郷隆盛. (from left to right) Okubo Toshimichi, myself, Saigo Takamori Thế là tôi được trở về của những tháng năm của "Minh Trị Duy Tân", được gặp gỡ hai vị "khai quốc công thần" của thời đại Duy Tân, 150 năm về trước. Tôi bước nhìn những hình ảnh của "Con Ðường Ði ÐếnDuy Tân", 維新への道, mà học hỏi thêm là công cuộc Duy Tân đã bước qua những chặng đường khó khăn và bị chống đối, chứ không như tôi tưởng, qua những bài viết mà tôi đọc được. Từ bức tâm thư của ông Godai Tomoatsu, một Nguyễn Trường Tộ của Nhật Bản, gởi cho lãnh chúa Shimazu, 島津, của Satsuma-Han (Kagoshima ngày nay) vào tháng 6 năm 1864, sau khi chứng kiến hỏa lực hùng hậu của hải quân Anh đánh phá thành Kagoshima và uy hiếp lực lượng của Satsuma, khiến Satsuma phải mượn nợ của Tokugawa shogun

trả chiến phí và thiệt hại cho Anh. Ông viết : để Satsuma hùng mạnh, ta cần phải học hỏi kỷ thuật của phương Tây. May mắn cho Nhật Bản là Shimazu biết và thấy được con đường phải đi. Tháng 2 năm 1865, ông bí mật gởi 16 sinh viên (trong đó có ông Godai Tomoatsu) đến Anh, học về kỷ thuật, để thực hiện giấc mơ "Phú Quốc Cường Binh", 富国強兵, Fukokukyohei.Việc gởi sinh viên đi học phải giử bí mật, vì lúc đó nước Nhật đang trong thời kỳ "Bế Môn Tỏa Cảng" của Tokugawa shogun. Dĩ nhiên là họ, kể cả lãnh chúa Shimazu, khó toàn mạng, nếu Tokugawa shogun biết được. Sự kiện gởi sinh viên của Satusma đến Anh Quốc học hỏi, được gọi là "Satsuma Students, Go West", 薩摩スチューデント, 西へ. "Satsuma Students, Go West", 薩摩スチューデント, 西へ Tôi cũng được hướng dẩn đến xem những hình ảnh của cuộc cách mạng kỷ nghệ mà xứ Satsuma, đã làm được trước thời"minh Trị Duy Tân", sau khi họ bí mật gởi những sinh viên đến Anh. Những máy truyền tin (Morse), những "steam engine" cho máy tàu, những máy chụp ảnh trùm đầu phủ kín, những khẩu canon chế tạo theo kiểu Âu Châu, bắn đi xa hơn và chính xác hơn, mà Stausma làm được, đã là bước tiến

quan trọng khởi đầu cho thời đại Duy Tân và cách mạng kỹ nghệ ở Nhật Bản từ thời điểm đó Xe bus của thành phố đưa tôi đến thăm Saigo Takamori Do Kutsu, 西郷隆盛洞窟, (Saigo Cave), nơi mà ông Saigo Takamori ẩn náo 5 ngày cuối cùng của cuộc nổi dậy. Cuộc nổi dậy nầy đã được phản ảnh phần nào qua cuốn phim The Last Samurai. Saigo Takamori Do Kutsu, 西郷隆盛洞窟, (Saigo Cave) Sáng ngày 24 tháng 9, năm 1877, 40 ngàn quân chính phủ bao vây vùng núi Shiroyama ( 城山 ), cứ điểm cuối cùng của lực lượng Satsuma samurai. Lực lượng của samurai chỉ còn khoảng 300 người (từ khoảng 20 ngàn người trong lúc khởi đầu đánh nhau với quân chính phủ ở Kumamoto). Ông Saigo cầm quân và bị trúng đạn ở bụng. Ông quyết định "harakiri" kết thúc đời mình theo tinh thần võ sĩ đạo ( 武士道 ). Ông mất ngày 24 tháng 9, năm 1877, 49 tuổi. Cuộc nổi dậy nầy đòi hỏi những quyền lợi cho giới samurai sau khi chế độ Mạc Phủ cáo chung khi vị Shogun cuối cùng, Tokugawa Yoshinobu, trao quyền hành lại cho

Thiên Hoàng Meiji năm 1868. Họ không có công ăn việc làm sau những cải cách về quân sự, và địa vị của samurai đã bị xóa bỏ trong xã hội mới nầy. Cuộc nổi dậy kéo dài 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1877. Tôi đi bộ trên con đường dọc theo Shiroyama trong cơn mưa xuân lất phất, mà 150 năm trước đây, nơi đây đầy khói súng, hò hét, chém giết. Thấy buồn chi lạ, cảm thông cho nỗi buồn của một vị khai quốc công thần, vừa muốn duy tân đất nước, nhưng cũng bảo thủ muốn giữ lại một nền tảng đạo lý truyền thống nào đó của một thời Edo. Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ? Mặt chinh phu ai vẽ cho nên. (Chinh Phụ Ngâm Khúc) Ông từ bỏ chức vị cao sang trong chính phủ mới, sau khi những nguyện vọng của ông không được chấp nhận. Ông từ quan về Kagoshima dạy học và tưởng mình sống một đời ẩn dật cho suốt cuộc đời. Nhưng các học trò của ông đã khiến ông nhập cuộc trở lại chính trường, và đưa đến cái chết của ông nơi đồi núi Shiroyama của xứ Satsuma, nơi đã cưu mang ông trong suốt cuộc đời. Mãi đến 12 năm sau (1889), vị hoàng đế trẻ tuổi Meiji mới hiểu được hoài bảo của ông. Meiji Tenno đã xóa tội và xin lỗi ông. Con đường đưa đến "Duy Tân" là do công lớn của hai địa phận Satsuma (Kagoshima) và Choshu (Yamaguchi ngày nay), mà trong đó 3 ông Saigo Takamori (Satsuma, 薩摩藩 ), Okubo Toshimichi (Satsuma 薩摩藩 ) và Kido Tadayoshi (Chosu 長州 藩 ), đã cùng hợp tác, gây áp lực về chính trị và quân sự và đưa đến sự sụp đổ của chế độ shogun, đem quyền hành về một mối cho Minh Trị Thiên Hoàng và đưa đến một nước Nhật hùng cường. Lịch sử nước Nhật gọi ba ông là "Duy Tân Tam Kiệt ", 維新の三傑, Ishin no San kestsu. Sau cuộc Duy Tân thành công, cả ba ông đều mất sớm. Ông Saigo thì "harakiri" tự kết liễu đời mình, ông Kido thì bị bệnh mất nằm 1877. Còn ông Okubo, cũng là một vĩ nhân của đất Satsuma cùng thời với ông Saigo, thì bị ám sát chết ở Yotsuya, Tokyo, năm 1878, bởi một nhóm samurai của Kanazawa, vì ông không đặt quyền lợi của samurai trên quyền lợi của quốc gia, và ông có những cải cách rộng lớn, ôn hòa, không quá khích như những nhóm samurai của một thời đại Edo đã qua! Sang năm, 2018, nước Nhật kỷ niệm 150 năm "Minh Trị Duy Tân". mà Kagoshima là cái nôi của công cuộc Duy Tân. Các romen densha ( 路面電車 ), street car, ở thành phố Kagoshima đã vẽ đầy các hình ảnh quảng cáo cho ngày lễ lớn nầy.

2018, kỷ niệm 150 năm, Minh Trị Duy Tân (Street car, Kagoshima) Trong đêm cuối, tôi được giới thiệu ăn đặc sản của Kagoshima là "kurobuta", 黒豚, Tôi được thưởng thức món "Kurobuta shabu shabu". Sáng hôm sau, trước khi rời xứ Satsuma, tôi ăn sáng ở khách sạn, nhìn qua Sakurajima, trời vẫn đầy mây, như không phải là khói bay ra từ Sakurajima. Lại một ngày nữa tôi không có duyên để thấy eruption của Sakurajima. Ra đến nhà ga, Kagoshima Chuo Eki, thấy hàng chữ " ゆくさおじゃったもした, Yukusa Ojatta Moshita" (Welcome to Kagoshima), mà tôi mới học được mấy ngày hôm trước mà tự hỏi không biết Kagoshima ben có tiếng riêng khi nói tiếng giả từ hay không? Chuyến shinkansen "Sakura" rời Kagoshima Chuo Eki, lúc 9:48 sáng để đi về Shin- Osaka, Tokyo, và đến thành phố miền bắc, Hakodate, của Hokkaido.

Ðến Shin Osaka, tôi đổi qua Tokaido Shinkansen đưa tôi về Tokyo. Ði ngang qua Kyoto, nhưng lần nầy tôi không có dừng chân nơi đây. Nóc chùa gần nhà ga Kyoto, như một dấu hiệu ở đầu ngỏ cho thành phố của một thời. Nóc chùa gần nhà ga Kyoto, như một dấu hiệu ở đầu ngõ cho thành phố của một thời. Tôi mơ màng nhìn qua cửa kính : lỡ dòng đời điểm tóc muối tiêu còn giây phút chạnh lòng như.. mới lớn! (Thơ Nguyễn Tất Nhiên) Ðến Tokyo, một lần nữa, tôi phải đổi qua Hokkaido Shinkansen để đi Hakodate. Tôi đến thành phố nầy lúc 9:48 phút tối. Từ Kagoshima đi Hakodate đúng 12 tiếng trên quãng đường dài trên 2000 km. Chính xác hơn là 2,021.7km. Thành phố Hakodate nhỏ hơn Kagoshima, nhưng có vẽ ấm cúng hơn. Khách sạn tôi ở, Four Points by Sheraton Hakodate, cách nhà ga vài ba phút. Check in và tắm rửa xong đã 10:30PM. Ðêm nay, tôi lại băng qua bên kia đường. ghé vào "Lawson" konbini, mua mì cúp

đem về hotel dằn bụng. Tôi chọn "Curry Cup Noodle" mà bên Mỹ không thấy có bán. Nó có hai size, loại thường mà mình biết, và một một size lớn hơn. Size nầy bên Mỹ không có (You only see in Japan!). Tôi mua hai cup. Ðịnh ăn một cup cho đêm nay, và để dành một cup đem về Mỹ kỷ niệm. Nhưng ăn đã quá, vừa cay cay trong cái lạnh cuối đông còn sót lại, tôi làm luôn cúp "để dành" nầy. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm vì cô receptionist ở lobby cho tôi biết, Hakodate nổi tiếng với "Asa Ichi Market", 朝市, giống như Tsukiji ở Tokyo. Tôi đi đến đó, chỉ cách hotel tôi ở, khoảng 5 phút. Chợ nhỏ hơn Tsukiji, nhưng rất đông khách... tàu. Ngoài tiếng Nhật và tiếng Anh ra, có tiếng tàu, tiếng Ðại Hàn và một điều ngạc nhiên là có cả tiếng Nga, vì Hokkaido rất gần Nga. Dân chúng ở mấy thành phố cận đông của Nga đi Hokkaido shopping, du lịch, rẽ hơn đi Moscow. Ở đây, Nga có cả trung tâm văn hóa, và nhà thờ Orthodox. Asa Ichi Market", 朝市, Hakodate Ðồ biển như cua nhiều và tươi hơn ở Tsukiji, nhưng đồ ăn ở đây giá không bình dân và nhiều chọn lựa như ở Tsukiji. Nhưng tiệm nào cũng đầy khách tàu. Trong "Asa Ichi" có một pharmacy, và..cũng đầy khách tàu. Hiện tượng nầy người Nhật gọi là

"bakugai, 爆買い, Tôi có gặp một người tàu và họ cũng nói với tôi là mục đích của họ đến Nhật là đi chơi vì Nhật đẹp, và kế đến là "buy, buy, buy..". Tôi ngoặc kép (" ") ở đây là dùng nguyên văn của anh chàng nầy nói với tôi. Theo anh, món hàng mà người tàu thích nhất là "nồi cơm điện", vì nó bền, đẹp, và "MADE IN JAPAN". bakugai, 爆買い, Buy, buy, buy Tôi rời "Asa Ichi", đi thăm tòa tổng lãnh sự cũ của Anh Quốc khi Tokugawa shogun dưới áp lực của Mỹ, Anh và các xứ Âu Châu đã phải nhường bước, cho phép các xứ nầy mở lãnh sự của họ. Nhưng ở những nơi mà Tokugawa cho phép (những nơi xa Edo/Tokyo) như ở Hakodate, Shimoda (ở Izu-hanto). Về sau, dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, những lãnh sự sự quán nầy đóng cửa và dời về những thành phốn lớn như Sapporo, Yokohama.. Tôi cũng đến thăm tượng cô thiếu nữ mang giày đỏ, 赤い靴の少女, akaikutsu no shojo zo, ở gần hải cảng Hakodate để kỷ niệm nơi đây cô thiếu nữ nhỏ bé, tên là Kimi, chia tay người mẹ. Họ đến từ Shizuoka, vì phải kiếm ăn, bà đi làm xa ở nông trại, bà gởi Kimi cho vợ chồng mục sư người Mỹ chăm nuôi. Khi vợ chồng vị

mục sư về Mỹ, vì Kimi bị bịnh Kekkaku, 結核, (tuberculosis). Kimi không được phép đi Mỹ, nên họ gởi Kimi vào cô nhi viện ở Azabu, Tokyo. Cô mất năm Minh Trị 44 (1911), lúc 9 tuổi. Ðiều thương tâm là người mẹ tưởng đứa con gái mình đã được yên thân, hạnh phúc bên xứ Mỹ xa xăm kia. cô thiếu nữ mang giày đỏ, 赤い靴の少女 Sau đó tôi đến viếng thăm công viên gần đó, họ tạc tượng kỷ niệm ông Matthew Perry (Commodore Matthew Perry), khi ông đến đây tháng 5, 1854. Một năm sau ngày chế độmạc Phủ mở cửa thông thương với Mỹ.

Catholic Church, Hakodate

Orthodox Church,Hakodate Có lẽ nơi được gọi là landmark của Hakodate là Meiji-Kan ( 明治館 ), nơi từng là là bưu điện đầu tiên của Hakodate được đặt ở đây. Và " 函館金森レンガ倉庫 (Hakodate Kanemori Red Brick Warehouse).

函館金森レンガ倉庫 (Hakodate Kanemori Red Brick Warehouse), Hakodate. Hakodate cũng nổi tiếng với Hakodateyama yakei, 函館山夜景, cảnh đẹp về đêm. Người Nhật cho rằng có ba cảnh đẹp của ba hải cảng về đêm đó là: Hakodateyama Yakei, Kobe Rokkosan Yakei và Nagasaki Inasayama yakei. Tôi đươc cơ may đi thăm Hakodate trong chuyến đi mùa xuân nầy và được Tòng dẩn đi thăm Kobe Rokkosan yakei năm 2016. Chỉ còn lại nơi chưa đi là Nagasaki. Trước khi qua Nhật, tôi có mua JR Pass, được đi khắp nước Nhật trong 14 ngày. Tôi đã dùng 3 ngày ở Kagoshima, 3 ngày ở Hakodate. Thế là tôi còn lại 8 ngày nữa. Tôi trở về Nara để đi cho biết Yoshino-Mura ( 吉野村 ), Nara-ken, nơi nổi tiếng với 30 ngàn cây hoa anh đào khi mùa xuân về. Vì không có made reservation trước, tôi không lấy được phòng ở Yoshino. Thôi thì đành phải lấy khách sạn ở Nara, rẻ hơn gấp đôi, nhưng phải chịu khó đi xe điện khoảng một tiếng đồng hô đến Yoshino. Hoa anh đào ở vùng núi Yoshino nở sớm nhất là ở phía thấp, gọi là "Shimo-senbon, 下千本 ", kế đến "Naka-senbon 中千本 ", lên cao một chút nữa là "Kami-senbon 上千本 " và trên cùng, sâu nhất gọi là "Oku-senbon 奥千本 ". Khi tôi từ Hakodate ở Hokkaido trở lại Nara, hoa anh đào vùng Kansai hầu như đã rơi rụng gần hết, nhưng

cũng may mắn, là anh đào ở "Kamisenbon" và "Okusenbon" còn đang nở rộ, vì mọc ở phía trên cao của vùng đồi núi Yoshino. Nhìn hàng trăm cây hoa anh đào nở dọc theo triền núi, trong thung lũng rực trắng, và hồng của màu hoa, thấy cả một bầu trời bao la rộng mở. Kami-senbon 上千本, Yoshino, Nara Và như thấy cả không khí mùa xuân ùa vào lồng ngực. Con đường đi lên cao tràn ngập hoa anh đào hai bên đường. Người như nhập thể vào hoa để dịu dàng đón lấy những cơn gió xuân thoang thoảng về với núi đồi Yoshino. Ðêm hôm đó tôi trở về hotel ở Nara. Tôi thả bộ đi dọc theo con phố chính của thành phố, từ nhà ga Nara đi đến Kasuga Taisha ( 春日大社 ).

Kasuga Taisha, Nara Con phố không cổ kính như ở Kyoto, cũng không hào hoa như ở Omote-Sando, Harajuku, Tokyo. Lịch sử viết là nhà ga Nara đã được trùng tu 2 lần từ khi được thành lập năm Meiji thứ 23 (1890). Tôi không thấy hình ảnh nguyên thủy của nhà ga Nara như thế nào, nhưng nhà ga Nara của ngày hôm nay không có khác chi nhà ga Nara mà tôi xem trong phim "Escapade in Japan", tiếng Việt dịch là "Trốn Chạy Khắp Nước Nhật ", đúng như nội dung của cuốn phim, hai đứa bé khoảng 8-9 tuổi, một Mỹ, một Nhật, vì một sự hiểu lầm, đã trốn chạy khắp nước Nhật và, câu chuyện chấm dứt ở Nara, khi cha mẹ của hai cậu bé và cảnh sát tìm thấy hai cậu trên nóc chùa "Todaiji ( 東大寺 ). Cuốn phim làm năm 1957, và tôi mua được DVD của phim nầy trên ebay mấy tháng trước. Xem lại để nhớ ngày xưa ông nội tôi dẫn tôi đi xem phim nầy ở rạp Kinh Thành (Tân Ðịnh). Có lẽ vì thế tôi mê Nhật và được diễm phúc đi học ở Nhật. Tôi đi dần về phía Kasuga Taisha. Buổi chiều vắng người, tôi có dịp đi sâu vào trong Kasuga Taisha, để thấy có nhiều jinja nhỏ ở phía trong sâu, cầu an, cầu hạnh phúc gia đình, cầu hạnh phúc cho vợ chồng. Và những restaurant nho nhỏ nằm thoai thoải trên con đồi nhỏ ở cuối đường của thần xã ra đường cái. Nó dễ thương, như những cái chòi nhỏ trong phim hoạt họa của Disney.

dể thương, như những cái chòi nhỏ trong phim hoạt họa của Disney Và qua bên kia đường là một cái hồ không lớn mà cũng không nhỏ lắm, thơ mộng bên những hàng liễu rũ trong ánh nắng cuối ngày.

Nara Ở đây mấy ngày, đi bộ vòng quanh thành phố, mới thấy Nara cũng là nơi đáng đến thăm, và con người ở Nara cũng có cái ấm cúng, hiếu khách, của một cố đô. Viết đến đây, tôi nhớ đến câu thơ của "thi sĩ exryu", Trần Cơ Lộ (viết 1973) : Thôi thì trở về bỏ chuyến đi Nara Lục lọi sách báo tìm bài thơ lạ Không biết vì lý do gì Trần Cơ Lộ bỏ chuyến đi Nara, hay là một con nai vàng ngơ ngác nào của xứ Nara, làm thi sĩ "giận hờn" bỏ chuyến đi. Hy vọng, sau đó thì chàng thi sĩ trẻ nầy tiếp tục chuyến đi đã bỏ lỡ đó, để thấy Nara cũng là một chốn đáng yêu sau những giận hờn. Tôì còn vài ngày nưà để dùng JR Pass, trước khi trở lại Tokyo về Mỹ. Thôi thì tiếp tục đi henro (pilgrimage) ở Tokushima ( 徳島 ). Lần nầy, tôi tiếp tục đi từ chùa số 11, Fujiidera, 藤井寺, đi đến chùa số 12, Shousannji, 焼山寺, Ðoạn đường dài khoảng 12.9 cây số. Thời gian cần thiết từ 4 đến 6 tiếng.

chùa số 12, Shousannji, 焼山寺, Tokushima-ken

chùa số 12, Shousannji, 焼山寺, Tokushima-ken Ðường đi khó vì phải leo núi, gập ghềnh, đá và đá. Có nhiều chỗ khó leo, dễ làm nản chí kẻ hành hương. Những đoạn đường khó đi nầy được gọi là "Henro korogashi" 遍路ころがし.

Henro korogashi" 遍路ころがし, Tokushima-ken

Henro korogashi" 遍路ころがし, Tokushima-ken

Cảnh bên đường đi henro từ chùa #11 (Fujiidera) đến chùa #12 (Shoosanji), Tokushima-ken

Một nông dân bên đường trên đường đi henro từ chùa #11 (Fujiidera) đến chùa #12 (Shoosanji), Tokushima-ken

Cảnh bên đường đi henro từ chùa #11 (Fujiidera) đến chùa #12 (Shoosanji), Tokushima-ken Cảnh bên đường đi henro từ chùa #11 (Fujiidera) đến chùa #12 (Shoosanji), Tokushima-ken

Cảnh bên đường đi henro từ chùa #11 (Fujiidera) đến chùa #12 (Shoosanji), Tokushima-ken Trên đường đi henro, mùa xuân 2017, Tokushima-ken

Ohenro-san, Tokushima-Ken

Hai người hai ngả, ai buồn hơn ai! Thời gian đã hết, tôi rời Tokushima ( 徳島 ) đi qua ngõ Takamatsu ( 高松 )đến Okayama ( 岡山 ), rồi từ đó đón shinkansen về lại Tokyo. Những cơn mưa xuân đón tôi đến và đưa tôi đi. Tôi rời phi trường Narita trong một ngày cuối xuân trong cơn mưa phùn. Tôi bỏ lại sau lưng đoạn đường dài đi từ chốn cực nam, Kagoshima, của đảo Honshu lên Hakodate, điểm cực nam của đảo Hokkaido. Ði qua những cánh đồng nhà quê ở Tokushima và những đồi núi của vùng Yoshino, tiếp xúc với những người dân quê, những ohenro-san, tôi hiểu thêm về con người và văn hóa nước Nhật. Xin cám ơn trời và cám ơn người, đã cho tôi được diễm phúc đó. Mùa hè năm 2017 Nguyễn Anh Tuấn (Bắc Cali)